Toogle template customization
Toggle top modules
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
PHATGIAOHOC.COM Giới Thiệu MỘT SỐ NGÔI CHÙA NỔI TIẾNG Ở THỪA THIÊN HUẾ
MỘT SỐ NGÔI CHÙA NỔI TIẾNG Ở THỪA THIÊN HUẾ PDF. In Email
Viết bởi internet   
Thứ năm, 14 Tháng 7 2011 00:43

MỘT SỐ NGÔI CHÙA NỔI TIẾNG Ở THỪA THIÊN HUẾ

ThS Hoàng Ngọc Vĩnh

1) Chùa BaLaMật: Tọa lạc trên đường Nguyễn Sinh Cung, xã Phú Thượng, huyện Phú Vang. Chùa do Viên Giác Đại Sư (1834 – 1900) khai sơn năm 1886. Ông là Nguyễn Khoa Luận thuộc đời thứ 9 dòng họ Nguyễn Khoa, là cố nội của đồng chí Nguyễn Khoa Điềm, nguyên là Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương. Ông làm quan dưới thời nhà Nguyễn đến chức Bố Chánh tỉnh Thanh Hóa. Dưới thời Tự Đức, ông nhiều lần xin xuất ngoại du học để học cách chế tạo vũ khí đánh đuổi thực dân Pháp, nhưng triều đình đã mục nát, mọi cố gắng duy tân của ông đều thất vọng, ông treo ấn từ quan trước ngày thất thủ kinh đô. Ông xuất gia làm đệ tử của Hòa thượng Thích Cương Kỷ (Hải Thiệu) chùa Từ Hiếu với pháp danh Thanh Châu, hiệu là Viên Giác. Ông có nhiều đệ tử nhưng người xuất sắc nhất là sư Viên Thành người sáng lập ra chùa Trà Am. Chùa đã được trùng tu năm 1934 và đến năm 1943 lại được Thượng tọa Thích Trí Thủ trùng tu lần nữa. Lần trùng tu gần đây nhất là năm 1997. Tăng, ni, phật tử của chùa có nhiều đóng góp trong phong trào chống chính quyền Ngô Đình Diệm và Đế quốc Mỹ. Chùa là một trong những nơi trú ẩn an toàn cho các chiến sỹ cách mạng, đồng thời là nơi in ấn các tài liệu quan trọng phục vụ cho tuyên truyền giác ngộ cách mạng chống chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ. Chùa có kiến trúc chữ khẩu, khuôn viên rộng thoáng mát chừng 0,80 ha. Sau cổng tam quan kiểu cổ lầu hai tầng hai mái, phía bên phải là một hồ sen nhỏ, giữa hồ có tượng đá tạc hình Nguyễn Khoa Luận cao gần 2,00m đang ngồi đọc sách, phía bên trái là nhà thờ họ Nguyễn Khoa. Chùa thuộc phái Liễu Quán nặng về pháp môn Tịnh độ. Cách bố trí tượng thờ ở chánh điện phía tiền đường nhìn một cách khái quát như sau: Nơi cao nhất chính giữa thờ tượng 18 vị AlaHán (Đây là một trong bốn bộ tượng xưa nhất còn lưu giữ tại Huế. Tầng tiếp theo thờ Phật Tam Thế: Phía trong giữa là Phật Thích Ca, bên trái là Phật AdiĐà, bên phải là Phật AdiLặc. Phía ngoài thấp xuống một bậc ở giữa là Phật Thích Ca, bên trái là Ca Diếp, bên phải là AnanĐa. Tầng thấp nhất trên chánh điện phía trước ở giữa là Phật DiLặc, bên trái là Đức Thế Chí, bên phải là Quan thế Âm. Hai căn bên chánh điện: Căn bên trái là bàn thờ thần Hộ Pháp (thiện), Căn bên phải là bàn thờ thần Tiêu Điện (ác). Phía hậu đường của chánh điện là Bàn thờ tổ: Nơi cao nhất có ảnh 18 vị AlaHán. Trên bàn thờ theo thứ tự là: Thờ Nguyễn Khoa Luận Thờ hương Linh, Địa tạng Thờ dòng họ Nguyễn Khoa Trong điện thờ Quan Âm có Tượng Quan Âm cao 3,50m Người trú trì ngôi chùa này hiện nay là Hòa thượng Thích Đức Trì (nguyên là người có công trong phong trào chống Mỹ - Ngụy), ủy viên Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phó trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế. Hiện nay, chùa là trụ sở của Ban Đại diện Phật giáo huyện Phú Vang. Chùa được Bộ Văn hóa công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1993.

2) Chùa Báo Quốc: Tọa lạc trên đồi Hàm Long, đường Báo Quốc, phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế. Chùa còn có tên cũ là chùa Hàm Long và chùa Thiên Thọ. Chùa do thiền sư Giác Phong xây dựng cuối thế kỷ XVII (1674) và đã được các chúa Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Phúc Khoát ban sắc tứ là Quốc tự. Chùa được trùng tu năm 1808 bởi sự cúng dường của Hoàng Hậu Hiếu Khương, Hoàng Hậu cũng cho xây cổng tam quan và đổi lại là Hàm Long Thiên Thọ tự. Đại hồng chung và Bảo khánh hiện thờ tại chùa cũng được đúc vào năm 1808. Năm 1824 vua Minh Mạng ngự ban sắc tứ cho chùa là Báo Quốc tự. Năm 1830 vua đã làm lễ đại giới đàn nhân vạn thọ tứ triều đại khánh tại đây. Năm 1858 vua Tự Đức và Hoàng Hậu Từ Dũ đã tổ chức tiểu trùng tu chùa và sau đó liên tiếp được trùng tu cho đến cuối thế kỷ XIX. Năm 1930, chùa có công lớn trong đào tạo các tài năng cho Phật giáo. Năm 1935, trường sơ đẳng Phật học Trung Kỳ mở tại đây. Năm 1940 trường Cao Đẳng Phật học Trung Kỳ cũng được mở tại đây. Từ 1948 Phật học đường Linh Quang được dời về đây nên chùa được gọi là Phật học đường Báo Quốc do Thượng tọa Thích Trí Thủ vừa là giám đốc Phật học đường vừa là trú trì chùa. Năm 1957 chùa được trùng tu xây dựng bằng xi măng cốt thép nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc cũ. Muốn lên đến chánh điện của chùa ta phải bước lên 29 bậc cấp, qua một cổng tam quan kiến trúc kiểu cổ lầu hai tầng. Chùa có diện tích chừng 1,00 ha. Phía đông giáp đường Điện Biên Phủ, phía tây giáp thôn Lịch Đợi, phía nam giáp thôn Trường Giang, phía bắc giáp ga Huế. Chùa theo pháp môn Tào Động. Kiến trúc chùa theo lối chữ khẩu. Bài trí tượng thờ ở chánh điện như sau: Căn giữa nơi cao nhất trong cùng thờ các Phật tam thế tọa trên các đài sen; Thấp xuống và ra phía trước một tý ở giữa là Phật Đản, hai bên là hai bộ kinh Hoa Nghiêm và Pháp Hoa, trước mặt Phật Đản là tháp Xá lợi; Thấp xuống và ra trước tiếp theo ở giữa là Phật Thích Ca, bên trái là Ca Diếp, bên phải là AnanĐa; Tầng thấp và trước nhất trên bàn thờ chánh điện ở giữa là ảnh Bồ Đề ĐạtMa cùng với bộ kinh của Ngài, bên trái là mõ, bên phải là chuông, trước ảnh là tượng chú tiểu cầm y bát. Căn trái chánh điện thờ Quan Âm, Phổ Hiền và Hộ Pháp, Tiêu Diện. Căn phải chánh điện thờ Dược Sư, Quang Lượng Phật, Đại trí Văn thù Sá lợi Phật. Hậu chánh điện là bàn thờ tổ Giác Phong cùng các cao tăng và những người có công trong xây dựng phát triển chùa. Hiện nay chùa Báo Quốc cũng là nơi đào tạo tăng tài cho Phật giáo Việt Nam, chùa là trụ sở của cả hai trường Cơ bản Phật học và Đại học Phật giáo tại Thừa Thiên Huế. Sư trụ trì chùa hiện nay là thượng tọa Thích Đức Thanh, ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phó viện trưởng Viện Phật giáo Việt Nam tại Thừa Thiên Huế, đồng thời là hiệu trưởng trường Cao đẳng Phật học Báo Quốc. Chùa là cổ tự danh thắng xưa nay của Thừa Thiên - Huế.

3) Chùa Diệu Đế: Tọa lạc ở 100 đường Bạch Đằng, phường Phú Cát , thành phố Huế. Chùa do chính vua Thiệu Trị xây dựng trên nền phủ đệ cũ của vua năm 1844. Năm 1889, vua Thành Thái sắc ban để Hòa thượng Tâm Tuyến trùng tu chùa. Năm 1904 chùa bị hư hỏng nhiều do bão cho đến năm 1953 mới được xây dựng lại. Chùa có bia đá cao 1,90m, rộng 1,00m đặt trên bệ cao 0,65m dựng trong nhà bia khắc những bài thơ của vua Thiệu Trị về chùa. Đây là ngôi quốc tự thứ ba ở Thừa Thiên Huế và được vua Thiệu Trị liệt là một trong 20 thắng cảnh của Thần Kinh. Hiện nay chùa là một trong những cơ sở Đông Y khám và điều trị bệnh miễn phí có uy tín, góp phần không nhỏ trong chăm sóc và phát triển sức khỏe của cộng đồng không chỉ tại thành phố Huế mà còn ở nhiều địa phương khác trong và ngoài tỉnh Thừa Thiên Huế.

4) Chùa Diệu Đức: Tọa lạc tại 92/6/4 đường Điện Biên Phủ, phường Trường An, thành phố Huế. Chùa được xây dựng vào năm 1932, năm 1936 xây dựng thêm. Tên chùa do Hòa thượng Phước Huệ (chùa Thập Tháp - Di đà) đặt. Chùa được sư cụ Diệu Hương, sư bà Thể Yến, sư bà Diệu Trí trùng tu ở các năm 1948, 1971, 1991. Chùa là ni viện đào tạo ni chúng có danh tiếng khắp cả ba miền từ 1932 đến nay.

5) Chùa Giác Lương (còn gọi chùa Hiền Lương): tọa lạc tại xã Hiền Lương, huyện Phong Điền (gần cầu An Lỗ). Ban đầu chùa do bà Hoàng Thị Phiếm vận động lập nên thời Lê Trung Hưng ở cầu Bệ, sau dân làng dời về xóm Phước Tự. Chùa được trùng tu vào các năm 1806, 1924, 1969, 1987. Ở chùa hiện còn nhiều pho tượng cổ thời Hậu Lê và đại hồng chung đúc năm 1819 có ghi tên các nghệ nhân rèn đúc như Hoàng Văn Lịch, Trần Văn Đức, Dương Phước Thiện, Trương Quang Sừng... là niềm tự hào của dân làng từ xưa đến nay. Chùa được Bộ Văn hóa công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

6) Chùa Hà Trung: Tọa lạc ở Hà Trung, xã Vinh Hà, huyện Phú Lộc. Chùa do thiền sư Hoán Bích Tạ Nguyên Thiều tạo dựng giữa sau thế kỷ XVII. Hiện chùa còn nhiều pháp khí, tượng cổ. Chùa có tượng Quan Âm bằng đá cao 2,46m do nghệ nhân Trung Quốc chạm đời nhà Thanh mà Nguyên Thiều thỉnh về đặt ở chính điện, tượng AdiĐà bằng gỗ phủ sơn, tượng Địa Tạng bằng đồng và đại hồng chung đúc năm 1762. Chùa đã qua nhiều lần trung tu. Lần trùng tu gần đây nhất là năm 1995. Ban Đại diện Phật giáo huyện Phú Lộc đóng trụ sở tại chùa này.

7) Chùa Kim Tiên: Tọa lạc tại 92/10 đường Điện Biên Phủ, phường Trường An, thành phố Huế. Chùa do thiền sư Bích Phong Việt Lão trùng kiến cuối thế kỷ XVII, cuối thế kỷ XVIII được chúa Nguyễn Phước Hoạt trùng tu. Từ thế kỷ XIX đến nay chùa được các Hòa thượng kế thế trụ trì trùng tu là Đạo Thành, Nhất Trí, Hải Từ, Tâm Khoan, Trừng Gia, Hưng Dụng.

8) Chùa Linh Quang: Tại phường Trường An, thành phố Huế. Chùa do Hoàng Thái Hậu Trang ý Thuận Hiếu xây dựng thời vua Thành Thái. Đây là ngôi chùa hợp nhất bởi hai chùa Linh Giác và Viên Quang đã được xây dựng giữa thế kỷ XIX. Từ 1963 chùa trở thành chùa Hội, là trụ sở của Phật giáo Việt Nam Thống Nhất miền Vạn Hạnh. Năm 1975 chùa được thiết trí tượng Quan Âm bằng đồng cao 2,16m đặt trên đài sen cao 0,37m ở chính điện. Chùa có bia đá khắc bài ký của hiệp liệu đại học sỹ Nguyễn Thuật viết 1902. Năm 1962 Hòa thượng Mật Nguyện cho tái thiết chùa nhưng vẫn bảo tồn kiến trúc cổ.

9) Chùa Linh Sơn Đông Thuyền: Thuộc Thủy Xuân, thành phố Huế. Chùa do ngài Tế Vỹ (đệ tử của Liễu Quán) khai sơn giữa thế kỷ XVIII. Kế tục trụ trì là các ngài Tuệ Chiếu, Trung Hậu. Năm 1839, công chúa thứ 13 của Gia Long là Nguyễn Phước Ngọc Cơ đã xuống tóc thọ giới sadi tại đây. Năm 1842 với pháp danh Hải Châu bà cùng mẹ và một số người thân đã trùng tu chùa. Kiến trúc chùa ngày nay do sư bà Diệu Không, sư cô Diệu Đạt trùng tu năm 1987.

10) Chùa Quốc Ân: Thuộc phường Trường An, thành phố Huế. Chùa do Thiền sư Nguyên Thiều khai sơn cuối thế kỷ XVII với tên là Vĩnh Ân. Năm 1689, chúa Nguyễn Phúc Trăn đổi lại là Quốc Ân. Từ 1802 đến nay chùa đã được trùng tu nhiều lần. Tại chùa có tấm bia ghi bài minh ký của thiền sư Hoán Bích Tạ Nguyên Thiều được dựng vào năm 1730. Theo bài ký này thì Nguyên Thiều là người Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc. Ông sinh năm 1648, sang Việt Nam năm 1677 và tịch năm 1728. Ông là người xây dựng chùa Thập Tháp - Di Đà sau đó ra Thuận Hóa tạo chùa Quốc Ân và tháp Phổ Đồng. Chùa là Tổ đình của phái Lâm Tế tại Huế.

11) Chùa Tây Thiên DiĐà: Thuộc thôn Dương Xuân Thượng I, xã Thủy Xuân, thành phố Huế. Chùa do đại sư Tâm Tịnh khai sơn năm 1902, lúc ấy gọi là Thiếu Lâm trường thất. Năm 1904 thảo am được đổi là chùa Thiếu Lâm. Năm 1911 chùa được trùng tu, đúc tượng AdiĐà và đổi thành Tây Thiên Phật Cung. Năm 1933 vua Bảo Đại ban sắc tứ là “Tây Thiên DiĐà tự”. Năm 1935 trường Phật học của Sơn môn Huế được thành lập ở đây để đào tạo tăng tài. Chùa được trùng tu gần đây vào năm 1990.

12) Chùa Thánh Duyên: Tọa lạc trên núi Túy Vân thuộc xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc. Chùa do chúa Nguyễn Phúc Chu dựng cuối thế kỷ XVII. Vua Minh Mạng trùng tu năm 1826 và 1836, vua Thiệu Trị trùng tu năm 1841 và xếp là cảnh thứ 9 trong 20 thắng cảnh của đất Thần Kinh. Chùa có bia dựng thời Minh Mạng và dựng thời Thiệu Trị. Bia thời Thiệu Trị cao 1,20m rộng 0,80m dày 0,16m khắc bài “Vân Sơn thắng tích” vào tháng 7 năm Thiệu Trị thứ 3. Tháp Điều Ngự cao ba tầng, thờ Phật được xây dựng năm Minh Mạng thứ 18 (1837), trên nóc dựng trụ đồng, đặt pháp luân có treo chuông nhỏ, gió thổi thì chuyển động, xa gần nghe rõ. Chùa đã được bộ văn hóa công nhận “di tích lịch sử văn hóa quốc gia”.

13) Chùa Thiên Hưng: thuộc thôn Dương Xuân Hạ II, xã Thủy Xuân, thành phố Huế. Chùa do Hòa thượng Liễu Đạo - Chí Tâm khai sơn năm 1825, Đại sư Thanh Chân trùng tu năm 1893, đại sư Tuệ Pháp trùng tu năm1911, Hòa thượng Quảng Tu và Hoàng Thái Hậu Xương Minh trung tu năm 1927. Năm 1935 chùa được sắc tứ biển ngạch và Hòa thượng Quảng Tu được ban “giới đao độ điệp”. Năm 1962 chùa được Thượng tọa Chánh Nguyên trụ trì trùng tu theo hình chữ đinh. Hiện chùa còn nhiều pho tượng và công trình chạm gỗ tinh xảo.

14) Chùa Thiên Mụ: Tọa lạc trên đồi Hà Khê, tả ngạn Sông Hương, thuộc xã Hương Long, thành phố Huế. Chùa do chúa Nguyễn Hoàng tái thiết năm 1601. Chúa Nguyễn Phúc Tần trùng tu năm 1665. Chúa Nguyễn Phúc Châu đúc đại hồng chung năm 1710, chuông cao 2,50m nặng 3285 kg. Năm 1715 chúa Nguyễn Phúc Châu cho dựng bia đá trên lưng rùa cẩm thạch, bia cao 2,58m. Các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Thành Thái đều cho trung tu chùa. Tháp Phước Duyên được vua Thiệu Trị xây năm 1844, tháp hình bát giác cao 21,24m có bảy tầng, mỗi tầng thờ một đức Như Lai. Năm 1943 chùa bị hỏng nặng. Năm 1945 Hòa thượng Thích Đôn Hậu đã tổ chức cuộc đại trùng tu kéo dài hơn 30 năm. Hiện nay chùa vẫn tiếp tục được trung chỉnh. Đây là ngôi chùa cổ nhất và nổi tiếng nhất của miền Nam Việt Nam.

15) Chùa Thiền Lâm: Thuộc đồi Cảnh Tế, xã Thủy Xuân, Thừa Thiên Huế. Chùa do Hòa thượng Hộ Nhẫn dựng 1960, kiến trúc kiểu Miến Điện, thuộc phái nguyên thủy Theravda ở Huế

16) Chùa Thuyền Tôn: Thuộc núi Ngũ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế. Chùa do thiền sư Liễu Quán khai sáng đầu thế kỷ XVIII. Năm 1746 ông Mai Văn Hoan đứng ra vận động xây dựng chùa thành quy mô. Năm 1808 bà Lê Thị Tạ giúp chùa trùng tu và năm 1937 Hòa thượng Giác Nhiên (Vị tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ 1973 đến 1979) đã cho đại trùng tu. Đây là thiền tự lớn và là tổ đình của phái Liễu Quán tại Huế. Cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu, phó chủ tịch Hội đồng trị sự Phật giáo Việt Nam vừa viên tịch ngày 04 tháng 10 năm 2001 nguyên trụ trì ngôi chùa này.

17) Chùa Trà Am: thuộc thôn Tứ Hạ, xã Thủy An, thành phố Huế. Chùa do đại sư Viên Thành (Công Tôn Hoài Trấp xuất gia năm 15 tuổi tại chùa BalaMật) khai sơn năm 1923. Chùa được thượng tọa Trí Hiển trùng tu năm 1937 và thượng tọa Như ý trùng tu năm 1960 theo kiến trúc Nam Châu Á. Chùa có tấm bia khắc chữ Hán hai mặt do Bình nam Nguyễn Khoa Tân viết năm 1931. Đại sư Viên Thành là một trong những đệ tử nổi tiếng của Đại sư Viên Giác, đồng thời là Cao tăng nổi tiếng trong giới Phật tử Việt Nam cho đến nay.

18) Chùa Trúc Lâm: Thuộc Dương Xuân Thượng I, xã Thủy Xuân, thành phố Huế. Chùa được sư bà Diệu Trường lập năm1903 và Hòa thượng Giác Tiên khai sơn trụ trì đầu tiên. Kế thế trụ trì là các thiền sư Mật Trí, Mật Hiển. Năm 1931 Hội An Nam Phật học đã ra đời tại đây, chùa cũng là cơ sở Viện Phật học đầu tiên của Huế. Chùa còn giữ nhiều bản kinh Kim Cang bằng chữ Hán. Bản kinh thêu gần 7000 chữ bằng chỉ ngũ sắc trên nền gấm do sư bà Diệu Tâm ở Sài Sơn thực hiện trong nhiều năm vào triều Cảnh Thịnh (Tây Sơn).

19) Chùa Tường Vân: Tọa lạc ở thôn Dương Xuân Hạ II, xã Thủy Xuân, Thành phố Huế. Chùa xưa là một thảo am do sư Huệ Cảnh dựng năm 1850. Năm 1881 đại sư Linh Cơ dời về sát nhập với chùa Từ Quang ở vị trí hiện nay. Đại sư Linh Cơ trùng tu năm 1891. Tăng thống Thích Tịnh Khiết trùng tu năm 1972. Hòa thượng Thích Minh Châu (nguyên Hội trưởng Hội Phật học Việt Nam, Hội đồng chứng minh Phật giáo Việt Nam) trùng tu năm 1992. Các vị tổ kế thế của chùa này cho đến nay là Huệ Cảnh, Linh Cơ, Phước Chỉ, Tịnh Khiết, Minh Châu. Chùa theo phái Liễu Quán nặng về pháp môn Tịnh độ. Cổng Tam quan kiến trúc cổ lầu hai tầng. Kiến trúc chùa theo chữ khẩu. Diện tích chùa chừng 2,00 ha. Chánh điện có ba căn: Căn giữa nơi cao nhất trong cùng thờ Phật tam thế, thấp hơn về phía trước chính giữa thờ Thích Ca Mâu Ni, trái là Phổ Hiền, phải là Văn Thù; Căn phải thờ Quan Thế Âm, Căn trái thờ Địa Tạng; Ngoài cùng phía phải là Hộ Pháp, phía trái là Tiêu Diện. Phía sau trong chánh điện là bàn thờ tổ. Theo bài vị thờ thì chùa có nguồn gốc là phái Lâm Tế bởi thiền sư Hoán Bích Tạ Nguyên Thiều truyền thừa. Hiện nay, Thượng tọa Thích Chân Tế, Uỷ viên Quốc Hội Việt Nam khóa XI-XII, Hiệu trưởng trường Đại học Phật giáo Hồng Đức, là giám tự chùa Tường Vân.

20) Chùa Từ Đàm: Thuộc phường Trường An, thành phố Huế. Chùa do thiền sư Minh Hoằng Tử Dung dựng khoảng năm 1695. Năm 1703 chúa Nguyễn Phúc Chu sắc tứ là Ấn Tôn Tự, đến năm 1841 vua Thiệu Trị đổi lại là chùa Từ Đàm. Cấu trúc chùa theo kiểu chùa Hội. Sau cổng tam quan là cây Bồ đề do bà Karpedes tổng thơ ký Phật học Nông Pênh thỉnh từ Ấn Độ về trồng tặng năm 1939. Năm 1936 chùa là trụ sở của An Nam Phật Học. Năm 1951 chùa là nơi họp để thống nhất sự ra đời của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam. Năm 1963, chùa cũng là nơi hội họp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam để ra bản Tuyên cáo “Năm nguyện vọng bảo tồn Phật pháp” chống chính sách kỳ thị Phật giáo của gia đình họ Ngô và đế quốc Mỹ. Năm 1981, chùa là một trong ba địa danh ra mắt của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hiện chùa là trụ sở Ban Trị sự Phật giáo Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế.

21) Chùa Từ Hiếu: Tọa lạc ở thôn Dương Xuân Thượng III, xã Thủy Xuân, thành phố Huế. Ban đầu chùa là am dưỡng đường do Hòa thượng Nhất Định dựng năm 1843. Năm 1848 khi Hòa thượng viên tịch các thái giám và cung giám tái thiết mở rộng thành chùa. Vua Tự Đức sắc tứ là chùa Từ Hiếu. Chùa được trùng tu các năm 1865, 1894, 1931, 1962, 1971. Cổng tam quan kiểu cổ lầu hai tầng hai mái, trong có hồ bán nguyệt thả sen súng được xây dựng năm 1931. Đây là một trong những ngôi chùa tổ đình và là một trong những nơi ấn hành kinh, luật của Phật giáo. Trong vườn tháp có các tháp mộ của các danh tăng Nhất Định, Diệu Giác, Cương Kỷ... Đây là danh thắng xưa nay của đất Thần Kinh.

22) Chùa Vạn Phước: Tọa lạc ở 60/14 đường Điện Biên Phủ, thành phố Phủ Huế. Ban đầu chùa là thảo am do sư Hải Mẫn hiệu Lương Tri đệ tử của Nhất Định) lập để tĩnh tu. Năm 1847 được trợ duyên của Thượng Thư Nguyễn Đình Hòe thảo am được xây dựng thành chùa Phổ Phúc do sư Hải Nhận hiệu Quang Đức trú trì và ông Hòe là hội chủ. Năm 1915 Thầy Tâm Cảnh hiệu Giác Hạnh kế thế trú trì và đến 1916 đổi thành chùa Vạn Phước. Năm 1933 trường sơ đẳng Phật học đầu tiên của An Nam Phật học mở tại đây do thầy Mật Khế làm hiệu trưởng. Chùa được trùng tu năm 1939 và được vua Bảo Đại sắc phong là “Vạn Phước tự” do Nguyên Quang tự Tâm Hảo trụ trì. Năm 1945 chùa được cư sỹ Võ Văn Cang cúng dường pho tượng Phật DiĐà bằng đồng cao 3,00m thờ tại chánh điện. Do linh ứng của pho tượng về sau chùa được gọi là “Vạn Phước DiĐà tự”. Năm 1954 chùa được trùng tu lần thứ hai. Từ 1966 thầy Nguyên Hạnh tự Tâm Hướng được cử làm trú trì chùa. Thầy Tâm Hướng đã nhiều lần trùng tu chùa và đồng thời là người xây dựng chùa Vạn Phước ở thành phố Hồ Chí Minh năm 1971.

23) Chùa Viên Thông: Tọa lạc ở thôn Tứ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế. Chùa do thiền sư Liễu Quán khai sơn năm 1697. Năm 1823 chùa đã được trùng tu và đổi thành chùa Hưng Phước. Năm 1881 chùa lại được trùng tu và đổi lại là chùa Viên Thông. Chùa có bốn bia và một khánh đá do vua Minh Mạng cúng dường. Khánh có chiều dài 1,09m rộng 0,69m dày 0,10 m. Chùa cũng có bộ Thập Bát La Hán bằng gốm sứ, mỗi tượng cao 0,33m do vua Khải Định cúng dường. Đây là ngôi cổ tự xưa nay tại Huế.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 14 Tháng 7 2011 01:02
 
Toggle bottom modules

Thành Viên Website



Độc giả truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay3652
mod_vvisit_counterHôm qua4732
mod_vvisit_counterTuần này3652
mod_vvisit_counterTuần trước39076
mod_vvisit_counterTháng này168829
mod_vvisit_counterTháng trước24793
mod_vvisit_counterTổng cộng7074015

We have: 162 guests, 10 bots online
Your IP: 23.23.57.144
 , 
Hôm nay: 22-Tháng 12-2014

Khảo Sát Phật Tử

Bạn có đi chùa thường xuyên không ?
 

Thông Tin Thời Tiết

Thông Báo Website

Namo Buddhaya !

Website này đang trong thời gian thử nghiệm.

Rất mong nhận được sự góp ý của quý độc giả xa gần!