Toogle template customization
Toggle top modules
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
PHATGIAOHOC.COM Giới Thiệu Narada Maha Thera
Narada Maha Thera PDF. In Email
Viết bởi internet   
Thứ hai, 25 Tháng 6 2012 08:40

Narada Maha Thera

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/3/3d/Portrait_Of_Most_Venerable_Narada_Maha_Thera_(1898-1983).jpg/220px-Portrait_Of_Most_Venerable_Narada_Maha_Thera_(1898-1983).jpg... "Hòa Thượng NÀRADA, Mahà Thera là một vị Tỳ Khưu trứ danh người Tích Lan. Ngài là một vị cao tăng đã nắm vững chắc phần giáo lý cao siêu nhà Phật. Thêm vào đó Ngài đã hấp thụ được phần uyên thâm hoằng đaị của nền văn hóa Tây Phương, về triết học cũng như về khoa học tối tân hiện đại.

"Do cái thiên tư hiếm có ấy Ngài đã giúp cho hàng học giả Âu Tây thấu hiểu rõ ràng những điểm rất tế nhị trong Tam Tạng Pali về vũ trụ quan và tâm linh quan.

Cũng nhờ sở năng đặc biệt đó mà Ngài trình bày dễ dàng và rành mạch, ai cũng hiểu được, bao nhiêu tài liệu căn bản trong kinh sách Phật Giáo mà đúng ra những ai không phải là nhà chuyên môn khó lòng lãnh hội..."

Bác sĩ MIGOT

Narada Maha Thera (14 July 1898 – 2 October 1983)

altTrong ba tháng kiết hạ tại chùa Kỳ Viên, Chư Tăng Việt Nam và Hòa Thượng NÀRADA Mahà Thera đã sống một nếp sống gương mẫu.

Quý Ngài đã tận dụng thì giờ quý báu vào công trình xây dựng đạo pháp và tỏ ra rất xứng đáng với chú nguyện giải thoát và nhiệm vụ lãnh đạo tinh thần của hàng Tăng Bảo.

Ngoài sự trau dồi Giới - Ðịnh - Tuệ, các Ngài nỗ lực khảo cứu Tam Tạng, giảng đạo, thuyết pháp, soạn thảo, trích dịch những tài liệu Phật học và tích cực gia công đào tạo các thầy Sadi gương mẫu để giao phó nhiệm vụ hoằng pháp trong tương lai.

Chư vị Tỳ Khưu cũng như Ðại đức NÀRADA Mahà Thera đã thực hiện tròn đủ tôn chỉ tự độ, độ tha. Ban đêm tham thiền minh sát, ban ngày vừa tiếp rước khách thập phương, vừa chia thì giờ viết sách, sửa bản in, dạy kinh, giảng đạo và huấn luyện các em Thanh Thiếu Niên Phật tử, các Ngài còn tổ chức những công tác xã hội như giúp đỡ người nghèo nàn thiếu thốn, tại chùa tại các trại dưỡng lão, các cô nhi viện v.v...

Các Ngài luôn luôn sẵn sàng đem lòng bác ái xoa dịu mọi niềm đau khổ.

Chẳng biết lấy chi đền đáp ân đức cao dầy của Chư Tăng và Ðại đức NÀRADA Mahà Thera giới cư sĩ chúng tôi chung cùng ấn tống quyển "Chuyện ngụ ngôn Bốn Con Rắn" trong dịp các Ngài ra Hạ, mong tạo phước lành hồi hướng đến các Ngài và cầu nguyện oai lực Tam Bảo hộ trì các Ngài dồi dào sức khỏe để phụng sự Phật pháp và sớm thành đạt đạo quả Niết Bàn.

Công phu tạo phần pháp thí này do đạo hữu Phạm Kim Khánh đã lưu tâm ghi chép các bài pháp của Ðại đức NÀRADA Mahà Thera cùng sưu tập những tài liệu quý giá trong kinh sách, nhất là quyển VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma) và cố gắng mô tả phần nào những pháp vô hình cấu tạo con người, mong giúp chư độc giả ý thức tính cách vô thường của kiếp sống, hầu nông trang theo dõi Ðức Phật trên đường tiến hóa đến nơi Vô Sanh Bất Diệt.

Âu cũng là một sự đóng góp hữu hiệu của một Phật tử chân thành trong công trình hoằng dương Phật pháp. Dĩ nhiên công tác Phật sự này vừa đem lại cho tác giả một nguồn phước báu vô biên vừa là một tiến bộ vững chắc của đạo hữu Phạm Kim Khánh trên đường giác ngộ.

Cầu xin quả phúc do sự ấn tống quyển kinh này sớm đem lại hòa bình cho quê hương tổ quốc và hạnh phúc an vui cho dân tộc.

Tín đồ Phật Giáo Nam Tông
  Kỳ Viên Tự, Sài gòn, 1964

-ooOoo-

Tích chuyện

Một ông Vua kia có nuôi bốn con rắn độc. Con thứ nhất tên "Rắn mỏ cây" (Kattha mukha) vì có cái mỏ cứng như cây, mổ đau lại có nọc độc. Rắn thứ nhì tên "Rắn mỏ thúi" (Puti Mukha) vì mỗi lần cắn ai thì thân thể người ấy sình thúi và tan rã ra nước.

Thứ ba là "Rắn mỏ lửa"vì ai bị rắn này cắn thì nghe trong mình nóng như bị lửa thiếu đốt đến chết. Thứ tư là "Rắn mỏ khí giới" (Sattha Mukha) vì có răng thật bén, mỗi lần cắn ai thì cũng như dùng khí giới gây tử thương người đó. Vua giao phó việc chăm nom bốn con rắn ấy cho một ông quan cận thần. Khi nào có ai phạm trọng tội thì bị cho rắn cắn. Lúc có chiến tranh thì Vua thả rắn ra diệt trừ quân địch.

Hôm nọ có một tên trộm đáng bị tử tội. Vua truyền đem tội nhân cho rắn cắn. Ông quan dẫn tên tử tội đến chuồng rắn và mở nắp ra. Một trong bốn con rắn bò ra, quấn tay mặt tội nhân và gác đầu bên vai trái. Con thứ nhì quấn mình quanh tay trái và gác đầu lên vai mặt. Con thứ ba quấn ngang bụng. Con thứ tư quấn cổ và gác mỏ lên đầu tên trộm. Bị rắn quấn đầy mình mà anh không tỏ vẻ lo sợ chút nào. Vừa lúc ấy có một vị hiền nhân giàu lòng bác ái đi ngang qua thấy vậy hỏi:

- Anh không sợ chết hay sao?

Anh vừa chỉ rắn vừa đáp:

- Ðây là các vật trang sức của tôi. Tay tôi đeo neo, bụng thắt dây lưng, cổ có kiềng và dây chuyền, đầu lại đội mão.

- Không phải đâu, đó chỉ là bốn con rắn độc.

- Tôi có thấy đâu là rắn độc. Nó có vẻ hiền lành lắm và đeo trên mình tôi thế này là đẹp lắm đấy chớ!

- Bạn nên suy nghĩ lại kỹ càng và hãy bắt đầu lo từ bây giờ. Không nên lãng quên. Một ngày kia một con rắn sẽ bảo bạn đứng dậy nếu không thì nó không chịu. Nếu bạn làm theo thì ba con rắn kia bất bình. Rồi con thứ nhì sẽ bảo bạn đi tới. Rồi con thứ ba bảo bạn nằm, con thứ tư bảo bạn ngồi. Bạn không thể nào thoát khỏi ách nô lệ của chúng nó và bạn luôn luôn bị tai họa.

- Vậy bây giờ tôi phải làm thế nào?

- Bạn hãy lén lén bỏ rắn vào chuồng và mau chạy thoát ra khỏi chốn này.

Tên tội nhân làm y theo lời dạy.

Khi ông quan hay được thì vào triều tâu lại tự sự cho Vua. Vua truyền thả rắn ra rượt theo. Bốn con rắn cố sức chạy theo tên tội. Cùng một lúc ấy vua truyền năm tên binh sĩ theo phụ sức với rắn bắt cho được tên trộm, nếu thành công sẽ được trọng thưởng.

Vua cũng truyền gọi một người bạn chí thân của tội nhân đến dạy phải rượt bắt. Nếu bắt được tội nhân, vua sẽ phong cho làm đại tướng.

Nói về tên trộm, khi thoát ra khỏi chỗ nguy hiểm thì có ý dễ duôi hưởn đãi. Vị hiền nhân xuất hiện và nhắc nhở anh rằng tuy đại nạn vừa thoát khỏi nhưng anh chưa được châu toàn đâu. Hãy cố gắng, cố gắng tìm phương thoát nạn.

Anh vâng lời ráng sức chạy. Ðược một đỗi thì đến một làng nọ. Bụng đói, sức đuối, anh chạy riết vào làng tìm thức ăn và chỗ nghỉ nhưng đó chỉ là một làng bỏ hoang. Trong làng có sáu cái nhà mà nhà nào cũng vắng tanh. Chén dĩa nồi niêu đều trống không. Anh đâm ra chán nản, tìm một gốc cây dựa lưng vào nghỉ.

Vị hiền nhân lại xuất hiện và khuyên anh chớ nên trì hưỡn vì có thêm sáu tướng cướp đang chạy vào làng cùng bắt anh. Anh hoảng sợ bỏ chạy nữa. Một lúc sau anh đến trước một con sông rộng lớn. Từ bờ bên này qua bờ bên kia xa xa có một cù lao, có tất cả ba cù lao. Trong lòng sông, bốn giòng nước lũ gặp nhau xoay tròn thành một cái xoay rộng lớn. Bên kia bờ cỏ cây có vẻ yên tĩnh, nhàn lạc và an toàn. Còn bờ bên này thì chông gai đầy dẫy, phía sau lại có bốn con rắn, năm tên lính, người bạn thân trở mặt và sáu tên cướp đang rượt theo.

Nhưng làm sao qua sông? Không có cầu. Thuyền cũng không. Anh liền tìm cây và dây trong rừng kết lại làm một chiếc bè và hết sức cố gắng dùng cả tay lẫn chân bơi cho bè mau tách xa bờ. Khi đến cù lao thứ nhất anh ngoảnh nhìn lại phía sau thì thấy rắn, lính, người bạn và tướng cướp tất cả đều đến ven sông. Nhìn ra phía trước thấy còn hai cù lao và bờ bên kia. Anh lại nỗ lực bơi riết qua cù lao thứ nhì, thứ ba và rốt cùng đặt chân lên bờ bên kia, trên giải đất an lành tươi đẹp. Anh nghe trong người khoan khoái nhẹ nhàng, sẵn sàng bỏ lại sau lưng chiếc bè và bao nhiêu gian lao nguy khổn.

Bốn con rắn, năm tên lính, người bạn thân và sáu tên cướp biết rằng không thể nào bắt được tên tội nên buồn rầu. kẻ trước người sau, tất cả đều chết.

* * *

Trong chuyện ngụ ngôn kể trên, ông vua tượng trưng cho Nghiệp. Tên trộm là chúng sanh. Bốn con rắn tượng trưng bốn yếu tố (tứ đại) cấu thành phần vật chất của con người. Năm tên lính là ngũ uẩn. Người bạn thân trở mặt làm thù là cái gọi là "bản ngã" của con người.

Sáu cái nhà bỏ không là lục căn. Sáu tên cướp lùng bắt tên trộm là lục trần. Rắn, lính, bạn, tướng cướp, tất cả mười sáu điều đó là những pháp làm cho chúng sanh phải đắm đuối trong vòng luân hồi. Sự tham dục, sự luyến ái theo đời sống, tà kiến và vô minh là bốn giòng nước lũ.

Chiếc bè là Bát Chánh Ðạo, và ba cù lao là ba đạo quả thánh Tu Ðà Hườn, Tư Ðà Hàm và A Na Hàm. Khi đắc đạo quả thứ tư - A la Hán - là bước chân lên bờ bên kia, bờ giải thoát của Niết Bàn vậy.

-ooOoo-

PHẦN CHÚ GIẢI 

Ông Vua tượng trưng cái Nghiệp. Nghiệp (Kamma), tiếng Bắc Phạn là Karma, là hành động.

Ðịnh nghĩa cùng tột của Nghiệp là tác ý, tốt hay xấu (Kusala, Akusala Cetàna). Mỗi tư tưởng, lời nói hay việc làm của ta đều do ý muốn làm động cơ thúc đẩy. Ta gọi ý muốn hay ý chí ấy là tác ý (Cetàna). Tác ý có thể tốt hay xấu. Tác ý thiện (Kusala) hay bất thiện (Akusalà) đều tạo Nghiệp.

Ðức Phật dạy: "Này hỡi các Tỳ Khưu Như Lai tuyên bố rằng chính Tác ý là Nghiệp. Có ý muốn mới có hành động, bằng thân, khẩu, hay ý".

Ngoại trừ những hành động của chư Phật và chư vị A La Hán, mỗi hành động có tác ý đều gọi là Nghiệp. Mặc dầu chư Phật và chư vị A La Hán vẫn còn phải chịu ảnh hưởng của những nhân đã gieo trong quá khứ, các Ngài không còn tạo Nghiệp mới nữa vì đã hoàn toàn đoạn tuyệt mọi tham vọng. Các Ngài đã thoát ra ngoài cái lành hay cái dữ. Hành động của các Ngài không thiện (Kusala), cũng không ác (Akusala), mà hành (Kiriya), nghĩa là tuyệt đối không gây quả, không tạo Nghiệp.

Chính Tâm tạo ra Nghiệp. Nếu không có Tâm trong việc làm thì không có Nghiệp. Cây cỏ không tạo Nghiệp vì không có Tâm. Cây cỏ không tạo Nghiệp vì không có Tâm, mặc dầu có cử động. Những vật vô tri vô giác như kim đồng hồ, cánh quạt, mặc dầu có cử động không tạo Nghiệp vì không có Tâm tức là không có ý muốn. Một hành động vô tình nghĩa là không do một ý muốn thúc đẩy thì không tạo Nghiệp bởi vì Nghiệp tùy thuộc nơi ý muốn hay tác ý dẫn đến hành động. Vậy một hành động không có tác ý không tạo Nghiệp.

Có một vài hệ thống tín ngưỡng cũng nhìn nhận rằng mọi sự chênh lệch trong xã hội đều do nơi Nghiệp, nhưng khi đề cập đến Nghiệp lại chủ trương rằng mọi hành động, có tác ý cùng không, đều tạo Nghiệp. Theo chủ trương ấy thì một người giết cha giết mẹ, dầu cố tâm hay vô ý, đều phạm trọng tội như nhau. Người sát nhân hay đối xử tàn ác với một chúng sanh khác, dầu vô tình hay cố ý, đều phạm tội bằng nhau cũng như thò tay vào lửa là bị nóng. Dầu cố tình hay vô ý, thọc tay vào lửa thì cũng bị phỏng như nhau, không hơn không kém.

Một lập luận như vậy dĩ nhiên sẽ đưa đến một kết luận phi lý. Ðứa bé vô tội trong bào thai vô tình làm cho mẹ đau đớn, bà mẹ vô ý làm đau con trong lòng hẳn cũng phạm tội ác? Vả lại nêu ra một sự kiện để giải thích một sự kiện tương tợ như trường hợp của người thọc tay vào lửa và người hành động ác là một luận cứ không thể đứng vững.

Thí dụ theo luận cứ trên, nếu ông A sai ông B đi giết người thì chính ông B phạm tội sát nhân mà ông A thì không sao cả vì chỉ có ông B thọc tay vào lửa. Hơn nữa cũng theo luận cứ trên, một hành động ác không có tác ý có thể còn tai hại hơn là hành động ác có tác ý. Nói một cách khác cố ý làm ác bị hại ít hơn là vô tình vì theo thí dụ người thọc tay vào lửa, biết rằng lửa nóng người cố tâm tất phải dè dặt hơn nên ít bị nóng, người vô tình, vì không định ý trước, không kịp ngăn ngừa ắt bị phỏng nhiều hơn [1].

Theo Phật Giáo, trong sự báo ứng của Nghiệp, Tâm là yếu tố quan trọng. Tất cả những việc làm, lời nói và tư tưởng đều do nơi Tâm. Không kềm chế Tâm tức nhiên không kềm chế được việc làm, lời nói và tư tưởng. Kềm chế Tâm tức là kềm chế thân, khẩu, ý.

"Chính Tâm dẫn dắt thế gian. Chính Tâm lôi kéo thế gian. Và tất cả mọi người đều làm chủ cái Tâm".

Kinh Pháp Cú cũng có câu:

"Tâm dẫn đầu mọi hành động. Tâm là chủ. Tâm tạo tác tất cả. Nếu ta nói hay làm với Tâm ác thì sự đau khổ sẽ theo ta như bánh xe lăn theo dấu chân con bò kéo xe".

và:

"... Nếu ta nói hay làm với Tâm trong sạch, hạnh phúc sẽ theo ta như bóng theo hình".

Ta lại thắc mắc vì sao một vật vô hình như Tâm lại có thể gây ra những sự xáo trộn cho thế gian vật chất. Thật ra không có gì lạ mà cũng không có gì khó hiểu. Chính những bộ máy cực kỳ hùng mạnh và có khả năng làm đảo lộn thế gian hiện đại chỉ là sản phẩm của những bộ óc phong phú.

Tên trộm là cái được gọi là chúng sanh. Tất cả chúng sanh trong dục giới và sắc giới [2] đều là sự cấu thành của hai yếu tố danh và sắc (nàma rùpa). Nói một cách khác trong con người có hai phần:

1. Phần vật chất hữu hình, biểu hiện ra ngoài bằng hình thể mà ngũ quan có thể nhận thức được; và
2. Phần tinh thần, vô hình, nằm bên trong.

Hai phần, hữu hình và vô hình, cùng phát sanh một lượt và phối hợp mật thiết để sinh hoạt.

Mặc dầu tất cả mọi người đều do danh và sắc hợp thành, không thể có hai người hoàn toàn giống nhau về mặt vật chất cũng như về phương diện tinh thần.

Sự khác biệt ấy có phải do giới thân cận không? Hay do luật truyền thống? Cả hai đều không hoàn toàn đúng vì không giải thích được tại sao hai đứa trẻ sinh đôi, cùng một huyết thống, cùng trưởng thành trong một nhà, mà tánh tình lại khác nhau.

Chắc chắn rằng giới thân cận và huyết thống có một ảnh hưởng quan trọng trong bản tính con người. Nhưng hai yếu tố ấy không đủ tạo nên một người.

Thuyết truyền thống không thể giải thích vì sao trong một gia đình có tiếng là hiền lương trong sạch từ mấy đời lại sanh ra một đứa con ngỗ nghịch, sát nhân, hay vì sao một đứa trẻ hiền lành đạo đức lại là con của một tên cướp tàn ác hung tợn.

Nếu đi ngược giòng thời gian và dò lần trở lên nguồn gốc một kiếp sống ta sẽ đến tế bào đầu tiên của bào thai và tế bào này là sự phối hợp của hai yếu tố: tinh trùng và minh châu của cha mẹ.

Hai yếu tố ấy có đủ để tạo một bào thai không? Nếu cho rằng đủ thì ta không thể hiểu được vì sao một ông A lại có diễm phúc lọt vào bào thai của nhà đại phú gia kia còn ông B thì vào bào thai người cùng đinh nọ.

Phật Giáo chủ trương phải có một yếu tố thứ ba, rất quan trọng, để tạo thành bào thai. Nếu không có yếu tố này, tinh trùng và minh châu chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn rồi tiêu diệt và chính do yếu tố thứ ba mà có sự khác biệt tế nhị giữa chúng sanh. Yếu tố ấy là "thức tái sanh" (Patisandhi-vinnàna) hay là Tâm Thức nối liền hai kiếp sống.

Ðức Phật dạy:

"Này hỡi các Tỳ Khưu! nơi nào có ba yếu tố ấy phối hợp lại là mầm sống phát sinh. Nếu cha và mẹ gặp nhau mà không nhằm thời kỳ sanh sản của mẹ và không có một "chúng sanh đi tái sanh" (Gandhabba) thì không có mầm sống. Nếu cha mẹ gặp nhau trong thời kỳ sanh sản của mẹ mà không có một "chúng sanh đi tái sanh" thì cũng không có mầm sống. Nếu cha mẹ gặp nhau nhằm thời kỳ sinh sản của mẹ và có một "chúng sanh đi tái sanh" thì có mầm sống, do sự phối hợp của ba yếu tố" [3]. ... (còn tiếp) 

Xin xem tiếp Phần  2

Chú thích:

Hòa thượng Narada Maha Thera (Sinhala: නාරද මහා ස්ථවිරයන් වහන්සේ), sinh Sumanapala Perera (tháng 7 năm 1898 14-ngày 02 tháng mười năm 1983) là một Theravadan Phật giáo nhà sư và dịch giả, Thượng Vajirarama Temple ở Colombo.Ông là một nhân vật nổi tiếng tại quê hương ông, Sri Lanka, và hơn thế nữa.

Ông sinh ra ở Kotahena, Colombo trong một gia đình tầng lớp trung lưu, được đào tạo tại trường Cao đẳng St Benedict và Tích Lan Đại học, và thụ phong linh mục ở tuổi mười tám.

Năm 1929, ông đại diện cho Sri Lanka tại lễ khai mạc cho tu viện mới Mulagandhakuti Vihara tại Sarnath, Ấn Độ, và năm 1934, ông đến thăm Indonesia, các nhà sư Theravadan đầu tiên làm như vậy trong hơn 450 năm. 

Từ thời điểm đó ông đi du lịch nhiều quốc gia để tiến hành công việc truyền giáo: Đài Loan, Campuchia, Lào, Nam Việt Nam, Singapore, Nhật Bản, Nepal, và Úc. Năm 1956, ông đến thăm Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, và giải quyết một đám đông khổng lồ tại Đài tưởng niệm Washington.

Ngày 02 tháng 11 năm 1960 Narada Maha Thera đã mang đến một cây bồ đề để miền Nam Việt Nam đền thờ Thích Ca Phát Đài, và đã đến thăm nhiều nước trong những năm 1960.

Cùng với những người khác (chẳng hạn như Piyadassi Maha Thera), ông đã góp phần phổ biến của phong cách nói chuyện Bana pháp trong những năm 1960 và mang lại những giáo lý Phật giáo [2 "để cuộc sống ngày-to-ngày của tầng lớp trung lưu phương Tây ở Sri Lanka." ]

[1] Poussin. "The Way to Nirvana" trang 68.

[2] Theo Phật giáo có ba giới:

1. Dục giới (Kàmaloka), chia làm 11 cảnh là 4 cảnh khổ (Apàya) 1 cảnh người (Manussaloka) và 6 cảnh trời dục giới (Sagga).
2. Sắc giới (Rùpaloka) gồm 16 cảnh mà những người đắc thiền sắc giới (Rùpaijhànas) tái sanh vào đó.
3. Vô sắc giới (Arùpaloka). Do nhờ năng lực thiền định, hành giả thọ sanh trong cảnh vô sắc, chỉ có tâm (danh) mà không có hình thể (sắc).

Theo thường, danh và sắc cùng phát sanh một lượt và phối hợp mật thiết để sinh hoạt, không thể bị phân tán. Nhưng trong những trường hợp đặc biệt, do nơi ý chí dõng mãnh trong lúc tham thiền, hành giả có thể tách rời danh và sắc, như ở cõi vô sắc, thể xác không còn là một yếu tố cần thiết để tâm tồn tại.

[3] Majjhima Nikaya (Trung A Hàm) - Mahatanhà Samkhaya Sutta, Kinh Đoạn Tận Ái, số 38.

 
Toggle bottom modules

Thành Viên Website



Độc giả truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay180
mod_vvisit_counterHôm qua8906
mod_vvisit_counterTuần này44015
mod_vvisit_counterTuần trước63423
mod_vvisit_counterTháng này225862
mod_vvisit_counterTháng trước181163
mod_vvisit_counterTổng cộng7276558

We have: 163 guests, 19 bots online
Your IP: 54.161.191.254
 , 
Hôm nay: 26-Tháng 10-2014

Khảo Sát Phật Tử

Bạn có đi chùa thường xuyên không ?
 

Thông Tin Thời Tiết

Thông Báo Website

Namo Buddhaya !

Website này đang trong thời gian thử nghiệm.

Rất mong nhận được sự góp ý của quý độc giả xa gần!