Phật-Pháp-Vấn-Đáp
Toogle template customization
Toggle top modules
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
PHATGIAOHOC.COM
Phật-Pháp-Vấn-Đáp PDF. In Email
Viết bởi internet   
Thứ tư, 03 Tháng 8 2011 22:04

Phật Pháp Vấn Đáp

QUY Y TỪ XA – CHUYỆN LÀ CÓ THẬT!

Sau một thời gian tìm hiểu và học tập giáo pháp, tôi phát tâm quy y Tam Bảo.Chỉ có điều vị thầy hướng đạo, khai mở tuệ giác mà tôi muốn quy y, y nương tựa tinh thần lại ở rất xa. Vì điều kiện sinh sống làm ăn nên không để đến quy y trực tiếp với thầy tại chùa được, vậy tôi có thể “quy y từ xa” hay có cách nào tương đương không? Mới đây, một số bạn bè cho tôi biết đã quy y qua Internet.Kính hỏi, quan điểm của Phật giáo về vấn đề này thế nào? Xin được chỉ bày và cho chúng tôi những lời khuyên.

ĐÁP:

Trong thời đại số hoá, công nghệ thông tin phát triển như vũ bảo, những thành tựu của khoa học và công nghệ đã được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực cuộc sống đưa đến nhiều tiện ích, nhanh chóng và tiết kiệm. Giờ đây, các hoạt động có tính chất “từ xa” không còn xa lạ đối với mọi người. Từ mua bán, học tập, giảng dạy, họp hành, cho đến trị liệu v.v…đều có thể thực hiện từ xa. 

Riêng vấn đề “quy y từ xa”là một ảo kiến thật bất ngờ và khôi hài. Sở dĩ gọi là ảo kiến chứ không phải là sảng kiến vì tính chất hư ảo, tà kiến, phá lệ của nó và hoàn toàn phi kinh điển. Bất ngờ là vì cực kỳ mới mẻ, chưa từng có trong Phật giáo bao giờ. Khôi hài bởi ứng dụng công nghệ cao một cách lố bịch và khập khiễng vào một lĩnh vực rất cần sự đối diện, tiếp xúc và trao truyền trực tiếp. Trong thế giới ảo (internet), trao đổi thông tin là sự thật. Nhưng pháp thức quy y của Phật giáo thì không đơn thuần chỉ trao đổi thông in mà là sự thành tâm đối trước Tam bảo phát nguyện quay về nương tựa ba ngôi báu trong sự hiện diện và chứng minh của Phật, Pháp và Tăng đồng thời tiếp nhận từ chư Tăng năm giới quý báu để hoàn thiện tự thân. 

Quy y Tam bảo là một bước ngoặt rất quan trọng của một đời người.Quyết định bỏ tà quy chánh, sống theo ánh sáng Tam bảo được thể hiện bằng hành động cụ thể. Đích thân người quy y thành tâm quy kính trước Phật, Pháp, Tăng dũng mãnh phát thệ nguyện trở về sống trong Chánh pháp. Sự trang nghiêm của buổi lễ cùng với niềm xúc động mãnh liệt tràn ngập thân tâm của người quy y là dấu hiệu cho thấy pháp quy y thành tựu. Sau khi quy y, người Phật tử cảm nhận được một nguồn năng lượng mới từ Tam bảo truyền vào thân tâm, khiến họ hân hoan, tịnh tín và bình an… Kinh nghiệm nội tài này là một dấu ấn đậm nét, khó phai mờ trong tâm thức đồng thời có khả năng hộ trì người Phật tử giữ vững niềm tin, nỗ lực tu học. 

Khi “quy y từ xa” qua internet, thì đối trước chúng ta là màn hình máy vi tính: Không Phật, không Pháp cũng không Tăng; không kính lễ, không hoa hương, không trang nghiêm, hoàn toàn nhạt nhẽo, vô vị và bất kính. Dù nghe được tiếng nói nhưng những âm thanh ấy chỉ là một phần rất nhỏ của pháp thức quy y, chưa đủ các yếu tố cần để tạo ra sự rung động, giao cảm với Tam bảo như quy y đúng Chánh pháp.Nếu đối trước Tam bảo phát nguyện quy y thì gọi là quy y Tam bảo, còn trong trường hợp đối trước máy vi tính quy y này chẳng lẽ gọi là quy y Máy Vi Tính sao? Sự phá lệ (quy y từ xa) này nếu không kịp thời ngăn chặn thì sẽ dẫn đến di hoạ phá vỡ các định pháp có tính truyền thống trong Phật giáo. Mặt khác, rồi đây ai dám chắc là không có chuyện quy y qua điện thoại, quy y qua video, VCD… và vô vàn cách quy y nhảm nhí, phi pháp khác? 

Vì thề, pháp quy y chỉ được thực hành trực tiếp và tất nhiên không thể “quy y từ xa” đồng thời cũng không không có pháp quy y nào tương đương, có tính cách gián tiếp được.Ngay cả trường hợp quy y khi tuổi còn nhỏ (chưa ý thức được ý nghĩa quy y) thì cha mẹ phải đích thân mang đứa trẻ đến đối trước tam bảo thành tâm kính lễ thì pháp quy y mới thành tựu. Tất cả những trường hợp đã đăng ký tên tuổi nhưng vắng mặt tại buổi lễ quy y hoặc “nghe quy y” qua trực tuyến (online) đều đồng nghĩa với chưa quy y. 

Ai cũng muốn quy y làm đệ tử của vị minh sư mà mình kính ngưỡng. trong trường hợp không đủ duyên lành để gặp thầy thì ta có thể quy y tam bảo tại ngôi chùa gần nhất rồi sau đó học pháp “từ xa” nơi vị thầy quý kính của mình. Đạo Phật là đạo trí tuệ, do đó sử dụng phương tiện cũng phải có trí tuệ mới đem đến an vui và lợi ích đích thực.

VIỆC CHÙA, VIỆC TU?

Tôi vào chùa được hơn hai năm, đang tập sự xuất gia. Hiện giờ trong chùa các vị lớn đều đi học xa, chỉ còn mình tôi với sự phụ tuổi đã già, do đó mọi việc tôi đều phải gánh vác. Tôi rất muốn hoàn thành công việc chùa để tiến tu nhưng thực sự không thể nào kham nổi. Lúng túng giữa công việc, sức khoẻ và học hành nhưng tôi không dám bày tỏ với ai. Hãy cho tôi những lời khuyên để vượt qua thử thách này và tiến tu trên con đường học đạo.

ĐÁP:

Trong lộ trình xuất gia, giai đoạn tập sự có thể nói là khoảng thời gian nhiều cam go, vất vả nhưng thật đẹp, hồn nhiên và thú vị. Khi “thời thơ ấy” trong veo ấy đã đi qua, nhớ lại ai cũng nấy nao nao, tiêng tiếc, lẫn lộn vui buồn. Hiện tại, tuy vất vả bởi nhiều việc và đôi khi trống trải vì thiếu vắng huynh đệ nhưng không làm bạn nản lòng, tâm nguyện xuất gia của bạn vẫn nồng nàn tha thiết. 

Trước hết, bạn phải nhận thức rằng bạn đang được thử thách để rèn luyện thể lực, un đúc ý chí trước khi chính thức nhập môn. Khó khăn trên đường tu càng lên cao càng chồng chất, nếu không được tôi luyện từ những tháng ngày đầu tiên thì bạn sẽ không cứng rắn, vững chãi khi trưởng thành. Bạn đã phát nguyện dấn thân thì không ngại khó, xem đó như là chướng ngại vật đầu tiên cần phải vượt qua. 

Mặt khác, đây là giai đoạn hết sức cần thiết để bạn gieo trồng phước điền Tam bảo.Nền tảng của tất cả phước báo mà một người xuất gia thành tựu khi trưởng thành đều xuất phát từ đây. Vì thế, chấp tác, lao dịch, sản xuất, tụng kinh, công phu, bái sám,hầu thầy và học tập giáo lý, oai nghi, tế hạnh là nhiệm vụ bắt buộc bạn phải hoàn thành. Kinh nghiệm từ những bậc đi trước cho thấy khả năng kham nhẫn, quyết tâm đi tới không lùi bước, nỗ lực bền bỉ của người xuất gia được hình thành ngay từ giai đoạn này. 

Do đó, làm tất cả công việc ở trong chùa, từ nhỏ đến lớn, nếu làm được thì đó là cơ hội quý báu để tích luỹ và phát triển phước báo của tự thân. Tuy nhiên, còn tuỳ thuộc vào khả năng, tình trạng sức khoẻ của bản thân để sắp xếp công việc, ổn định học hành. Khi đã xuất gia, cố nhiên bổn sư của bạn là trụ cột vững chắc mà bạn cần nương tựa trong tất cả các phương diện cuộc sống, từ vật chất đến tinh thần và cả đời sống tâm linh. Bất kỳ những khó khăn hay trở ngài gì trong cuộc sống bạn phải “tâm sự” cho bổn sư biết để được giúp đỡ. 

Bổn sư chính là cha mẹ và tất nhiên cũng được quý ngài xem như con cái. Đạo tình trong thiền môn tuy dựa trên nền tảng từ bi hỷ xả vô lượng nhưng thật thắm thiết,keo sơn, bền vững và chan chứa nghĩa tình. Bạn cứ mạnh dạn trình lên bổn sư (tốt nhất là trong lúc gần gũi hầu thầy) tất cả những tâm tư nguyện vọng cùng với hết thảy nhưng vui buồn, hạnh phúc hay khổ đau của bạn một cách chân tình, thuần phác như con cái đối với cha mẹ. Thậm chí bạn cũng có thể động viên, an ủi bổn sư trong những lúc bệnh tật hoặc gặp trở ngài, khó khăn. 

Nếu làm được như vậy, chúng tôi tin tưởng một cách chắn chắn rằng, bổn sư sẽ hiểu và có phương án để giúp đỡ một cách hữu hiệu nhất, nhằm trợ duyên cho bạn tu học tốt hơn. Bạn phải biết rằng hiểu và thương là một nhu yếu rất quan trọng của con người. Trong thiền môn, hiểu và thương là một đáo lý sống rất căn bản và cần yếu. Bạn muốn được bổn sư thương hơn thì cần phải cho bổn sư hiểu thật nhiều về bạn. 

Bổn sư thường bận rộn với Phật sự bồn bề nên đôi lúc thiếu sự quan tâm và chưa thực sự hiểu hết về đệ tử. Mặt khác, những khó khăn trong Phật sự không phải là ít nên nhiều khi bổn sư có những đăm chiêu, nghiêm nghị khác thường khiến bạn không dám gần gũi,thân mật trong tình thâm đúng nghĩa thầy trò. Bạn phải thấy rõ điều này để hiểu và thương bổn sư hơn để cố gắng hết mình với công việc khi chùa neo người. 

Trong hoàn cảnh của bạn, để tháo gỡ những vướng mắc cho bạn không ai khác ngoài bổn sư và chính tự thân bạn. tâm nguyện xuất gia ban đầu của bạn còn lớn mạnh, sơ tâm còn trong trắng và thánh thiện, ý chí và nhiệt huyết tu học còn tràn trề, vậy thì chỉ cần thêm một tí nỗ lực nương tựa, chân thành tin tưởng, thương kính, tỏ bày và gần gũi với bổn sư, chắc chắn bạn sẽ được hỗ trợ để vượt qua những thử thách trong hiện tại.

CÁCH NÀO ĐỂ… QUÊN?

Tôi là một tín nữ thuần thành, tuy không xuất gia nhưng đã nguyện dâng hết đời mình cho đạo pháp. Hơn mười năm nay, hàng ngày tôi đến chùa làm Phật sự, công quả và tu niệm. Trong tim tôi, chuyện tình cảm lứa đôi gần như nguội lạnh, chỉ còn lòng thương bình đẳng với mọi người. Thế mà gần đây tôi gặp một người đàn ông có hoàn cảnh gà trống nuôi con, nửa đường gãy gánh. Lúc đầu, chỉ vì thương cảm nên tôi thường động viên, chia sẻ trong tình bạn đạo nhưng rồi dần dần tình cảm của tôi dành cho anh ấy ngày một lớn và đã yêu anh ấy thật sự. Từ khi con tim dậy sóng, tôi đã trăn trở, dằn vặt, nhớ nhung, hy vọng rồi thất vọng… Thực sự thì tôi biết rằng, tôi không xứng đáng với anh ấy về mọi mặt và đã cố quên, nhưng càng quên lại càng nhớ. Rồi một thời gian sau, khi nhận được thiệp hồng của anh ấy, tôi đã khóc thật nhiều và thú thật giờ đây tôi không thể nào quên được anh ấy. Xin hỏi có cách nào quên được anh ấy để tâm hồn tôi thanh thản, tiếp tục đi theo con đường đã chọn.

ĐÁP:

Trong mỗi người, tình yêu là nhựa sống, luôn tiềm tàng và sẵn sàng trỗi dậy bất cứ lúc nào. Chỉ trừ những bậc Thành đã đoạn tận tham ái, còn lại đối với hầu hết mọi người, con tim trần thổn thức, “loạn” nhịp là chuyện bình thường. Trường hợp của bạn, quên anh ấy không phải là khó song cần sự nỗ lực mạnh mẽ và nhất là phải vận dụng tuệ giác mới vượt qua. 

Trước hết, tự thân bạn đã có thệ nguyện không lập gia đình để không bị ràng buộc, sống thảnh thơi để tu học, làm công quả và phụng sự chúng sanh. Thệ nguyện này thật cao cả, ban đầu có tác động mạnh mẽ đến tâm hồn bạn, giúp bạn giữ vững tâm ý. Theo thời gian, nguyện lực này không được vun bồi, gia cố thêm cho vững chãi nên chí nguyện ban đầu đã lung lay. Thứ nữa, dù bạn có thực tâm tu học trong một thời gian khá dài, bạn có cảm tưởng con tim đã nguội lạnh nhưng kỳ thực sự an ổn đó chỉ có tính chất tạm thời. Chút thành quả an tịnh bạn đạt được chưa đủ mạnh để vượt qua cám dỗ của ái dục vốn tiềm tàng và rất hùng hậu trong thâm tâm của bạn nên khi hội đủ duyên thì luyến ái, yêu thương bùng phát. 

Mặt khác, bạn đã mất cảnh giác, không chánh niệm khi trang trải từ bi.Luyến ái được nguỵ trang khéo léo dưới biểu hiện của lòng từ làm cho sự thương cảm ban đầu trở thành thương yêu thật sự . Giờ đây, tâm bạn đã mất hết tự chủ bởi yêu ghét rối bời, đặc biệt là không thể nào quên được anh ấy. 

Bạn đang khổ đau nhưng đó là một kinh nghiệm quý báu. Trải nghiệm này sẽ giúp bạn vững chãi hơn để dấn thân và phụng sự. Bạn phải thấy rằng, anh ấy chỉ đồng cảm, trân quý và ngưỡng mộ bạn đồng thời có chút xao xuyến nhưng không hề yêu bạn. Khi có mất mát, hụt hẫng trong đời mà được chia sẽ, an ủi. vỗ về thì ai mà không biết ơn, cảm động? Tình cảm ấy là ái kính, một tình thương với nhiều biết ơn, kính trọng. Trong lòng anh ta, bạn chỉ là một hiện thân “Bồ tát” cứu khổ thánh thiện, trong sáng, nhân ái và tư bi. 

Trước đây, bạn đã từng đấu tranh nội tâm và đã có quên nhưng vẫn có một chút gì để mơ hồ chờ đợi, hy vọng dẫu vô cùng mong manh. Nay thì đã rõ ràng, anh ấy đã gởi thiệp hồng cho bạn rồi, chẳng còn gì để hy vọng và chờ đợi cả. Hiện giờ, bạn đang đơn phương yêu thương một bóng hình cùng những vọng tưởng điên đảo của tự tâm. Để cứu mình, bạn phải gạt nước mắt, bình tâm nhìn thẳng vào sự thật này. Bạn đã kinh qua khổ đau, thực chứng “yêu là chết trong lòng một tí”, đó là một tuệ giác. Việc đầu tiên, bạn phải thực hành sám hối để vơi đi ái nghiệp bởi chính ái nghiệp đã che lấp tuệ giác, khiến bạn mê mời tự khổ đau.Kế đến phải nhiếp tâm vào một đối tượng như niệm danh hiệu Phật, quán hơi thở… Điều quan trọng ở đây là bạn chẳng cần xua đuổi, không cần cố quên mà chỉ chú tâm thực hành pháp môn. Trở về sống với thực tại của thân tâm nhờ chánh niệm (niệm Phật, niệm hơi thở…) tâm của bạn dần lắng xuống, an tịnh.tất cả những khởi niệm của tâm (kể cả nỗi nhớ kia) đều được nhận biết nhưng không đeo bám và truy tìm, mặc kệ nó, tâm vẫn an trú vào pháp môn. Sự thực tập này là phương thuốc duy nhất để chữa lành tâm của bạn. 

Khi tâm có trú niệm, sự tĩnh lặng sẽ giúp bạn khám phá ra một điều vô cùng quan trọng: Các ý niệm trong tâm luôn hiện khởi, bềnh bồng và sinh diệt. Đuổi theo, bám víu thì nó phát huy tác dụng còn không thì nó tự tiêu vong. Tuệ giác này sẽ giúp bạn mỉm cười vì lâu nay bạn chỉ chơi trò ú tim, buồn vui với vọng tưởng của chính mình.

CỬA TỪ BI LUÔN RỘNG MỞ?

Chúng tôi là những Tăng Ni sinh (TNS) ở tỉnh, phát tâm cầu học, may mắn được trúng tuyển và hiện đang theo học tại Trường Cao Trung Phật học TPHCM. Hiện tại chúng tôi đang gặp một khó khăn rất lớn là không xin được chỗ ở nên dù rất đau lòng cũng đành phải thuê nhà ngoài để ở (hoặc tạm thời ở nhà người quen) và đi học. Là những người sơ cơ nhập đạo nhưng chúng tôi biết rõ nếu không được nương tựa chùa chiền và Tăng chúng thì sẽ rất khó khăn về đời sống đồng thời cũng rất nguy hiểmm cho sự tấn tu đạo nghiệp. Dù đã thành khẩn “gõ cửa” rất nhiều nơi nhưng chúng tôi chỉ nhận được sự im lặng hoặc chối từ. Không biết còn nơi nào tiếp nhận chúng tôi không? Hiện tại chúng tôi rất hoang mang về sự nghiệp tu học, không biết có nên tiếp tục tu học trong hoàn cảnh ấy hay là trở về? Xin cho chúng tôi một lời khuyên?

ĐÁP:

Chúng tôi thực sự đồng cảm với những tâm sự cũng như hoàn cảnh hiện tại của quý vị. Những trăn trở, ưu tư ấy thật cần thiết bởi nó liên hệ trực tiếp đến đời sống tu học của quý vị trong hiện tại và tiền đồ của bản thân cùng đạo pháp ở tương lai. Mong ước được học Phật pháp để làm hành trang tu tập, phụng sự Tam bảo là một nguyện vọng chính đáng. 

Trước hết, quý vị hãy bình tâm để thấy rằng hiện có rất nhiều TNS ở trên toàn quốc tập trung về Tp.HCM. Đây là một tín hiệu khởi sắc về học tập thất đáng mừng vì nơi đây có đầy đủ các chương trình đào tạo Phật học cũng như thế học, từ sơ cấp cho đến đại học, rất thuận lợi cho việc học tập nội ngoại điển. Tuy nhiên, hiện chưa có cơ sở giáo dục PG nào tại Tp.HCM có tổ chức nội trú cho TNS. Và, điều này đã tạo ra sự “quá tải” cho các cơ sở tự viện nội thành, hầu như chùa nào cũng có mặt ít nhất một vài TNS ngoại tỉnh. 

Quá trình tiếp nhận TNS tại các chùa viện lại mang đặc điểm rất riêng, đa phần dựa vào sự phát tâm tiếp Tăng độ chúng của vị trụ trì hoặc dựa vào một mối quan hệ đặc biệt nào đó như tông môn, quen biết v.v… Vấn đề quan trọng nhất ở đây là sau một thời gian tiếp Tăng độ chúng thì một số TNS vì nhiều nhân duyên khác nhau đã làm nguội lạnh đi nhiệt huyết độ sanh của chư vị trụ trì. Một con sâu đã làm rầu nồi canh.Thực trạng này dẫn đến có sự e dè, cân nhắc kỹ lưỡng, giới hạn và thậm chí không tiếp độ TNS nữa dù chùa vẫn neo người. 

Hiểu được điều này, chúng tôi thiết nghĩ quý vị đã có phần cảm thông với những “khó khăn” từ phía nhà chùa. Sự thất là cửa từ bi luôn rộng mở nhưng mở lúc nào và mở ra sao là kinh nghiệm và toàn quyền quyết định của mỗi vị trụ trì. Chúng ta không trách ai cả bởi mỗi người, mỗi nơi đều có những hoàn cảnh và khó khăn riêng. Tuy nhiên, không ai mà không khỏi chạnh lòng khi TNS ra ngoài thuê nhà để ở, rồi đến chùa học Phật pháp. Dù không muốn nhưng đến bước đường cùng thì TNS cũng phải nhẫn chịu mà thôi! Phải chăng, đây là một cái giá khá đắt và một dấu ấn hờn tủi cho TNS ở các tỉnh xa, vì để có được một chút tri thức Phật học mà phải ngậm ngùi chấp nhận nghịch cảnh nơi quê người đất khách, trong nhộn nhịp xô bồ của đô thị phồn vinh? 

Cũng có thể quý vị chưa “gõ” hết tất cả các cửa. chúng tôi tin rằng, vẫn còn nhiều nơi cho quý vị nương tựa. Bởi dù “khó khăn” đến mấy thì việc tiếp độ quý vị vẫn là hạnh nguyện, lương tâm và trách nhiệm của những vị trụ trì. Mặt khác, quý vị có thể nhờ Trường Cao – Trung Phật học Tp.HCM can thiệp, giới thiệu và giúp đỡ. Là TNS của trường, chắc chắn quý vị sẽ được sự trợ duyên cần thiết từ phía bản trường. 

Để giải quyết vấn đề cư trú ổn định và lâu dài cho TNS tại Tp. HCM, thiết nghĩ 

đây không chỉ là vấn đề của riêng cá nhân TNS với các vị trụ trì mà là vấn đề chung của Trường Cao – Trung Phật học Tp.HCM, Ban GDTN và Thành hội PG Tp.HCM cũng như Giáo hội. Giáo dục PG là giáo dục Giới – Định – Tuệ, vì thế nếu chưa thực sự kiện toàn thì nên chăng cần phải kiện toàn? Lưu tâm đến sự ổn định đời sống cho TNS trong môi trường nội trú chẳng hạn cũng góp phần không nhỏ cho sự nghiệp giáo dục thành công. 

Hãy kiên nhẫn hơn nữa trong khi chờ đợi sự lưu tâm và giúp đỡ từ các chùa và các ban ngành hữu quan của Giáo hội. Chúng tôi hy vọng rằng, trong một thời gian ngắn nữa, quý vị sẽ tìm được một đại chúng để nương tựa, bởi một lẽ đơn giản “cửa từ bi luôn rộng mở” cho mọi người, nhất là người xuất gia, trưởng tử của Như Lai.

HIẾN MÁU NHÂN ĐẠO

Tôi là Phật tử, rất ngưỡng mộ chương trình Hiến máu nhân đạo (HMNĐ). Vì thế, tôi đã tham gia hiến máu trên 10 lần và cảm thấy sức khoẻ bình thường, tinh thần lạc quan, thoải mái. Gầm đây, tôi động viên bạn bè, người thân tham gia HMNĐ thì đa phần họ có thái độ e dè không biết máu của mình hiến có thực sự sử dụng với mục đích nhân đạo hay không, sợ ảnh hưởng đến sức khoẻ v.v… Xin cho biết một cách cụ thể và những lời khuyên về vấn đề trên.

ĐÁP:

HMNĐ là một trong những nghĩa cử cao đẹp nhất của con người,chia sẻ một phần sự sống của mình để đem đến sự hồi sinh cho người bệnh. Ngày nay, HMNĐ được phổ biến trên khắp thế giới và được mọi người tôn vinh, ca ngợi. 

Theo Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương, việc vận động HMNĐ được Hiệp hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (IFRC) khởi xướng từ năm 1921, đến náy đã có hơn 170 hội quốc gia trên thế giới. Mỗi năm, trên thế giới có khoảng 75 triệu đơn vị máu được hiến tặng. Kỷ lục hiến máu hiện nay của thế giới là ông Daniel O'Donnell, kỹ sư ở Buflato (Mỹ) đã hiến máy cho Hội Chữ thập đỏ Mỹ tính đến nay được 300 lần. 

ở nước ta, theo thống kê, mỗi năm các cơ sở y tế trong cả nước cần khoảng 1.600.000 đơn vị máu để cấp cứu và điều trị. Song, ngành y tế chỉ thu gom được 400.000 đơn vị máu, đáp ứng được 25% nhu cầu về máu. Trong đó, khoảng 70% lượng máu được lấy từ nguồn những người hiến máu chuyên nghiệp (bán máu). Vì thế, Nhà nước đã chủ trương huy động nguồn máu trong toàn dân. Thủ tướng Chính phủ đã ký các quyết định quan trọng như: Quyết định số 43/2000/QĐ-TTG ngày 7-4-2000 “Về việc vận động và khuyến khích toàn dân hiến máy tình nguyện”, quyết định lấy ngày 7-4 hàng năm là Ngày toàn dân hiến máu tình nguyện; Quyết định số 198/2000/ QĐ-TTG ngày 28-12-2001 về việc phê duyệt “Chương trình an toàn truyền máu quốc gia…” Điều này cho thấy HMNĐ là một công tác mang tầm quốc gia, có tính xã hội hoá, toàn dân cùng tham gia và phổ biến trên toàn quốc đồng thời được bảo hộ bằng pháp luật và khẳng định không một cá nhân hay tổ chức nào có thể lợi dụng HMNĐ vì mục đích tư lợi. 

Trung bình mỗi người trưởng thành có khoảng từ 3,5 đến 5 lít máu. Máu được cấu tạo bởi hai thành phần chính: tế bào máu (hồng cầu, tiểu cầu, bạch cầu) và huyết tương. Mỗi thành phần trong máu chỉ có một chu kỳ sống nhất định. Tuổi thọ của tế bào hồng cầu tối đa khoảng 120 ngày; tế bào bạch cầu khoảng vài ngày đến vài năm tuỳ loại; tế bào tiểu cầu khoảng 6-11 ngày; còn huyết tương thì thay đổi liên tục hàng giờ. 

Vì thế, hàng ngày các tuỷ xương luôn sản xuất ra các tế bào máu mới để thay thế các tế bào chết. Đặc biệt, khi có nhu cầu về hiến máu (hiến máu, mất máu do tai nạn hoặc hiến máu…) thì tuỷ xương và các cơ quan tham gia tạo máu khác sẽ hoạt động mạnh hơn gấp 8-10 lần bình thường, bù lại lượng máu đã thiếu hụt, vì thế lượng máu nhanh chóng sản sinh và phục hồi. Quá trình phục hồi của hồng cầu khoảng sau 3-4 tuần; huyết tương thì phục hồi nhanh hơn, chỉ vài ngày sau; bạch cầu và tiểu cầu do cư trú nhiều nơi nên không ảnh hưởng nhiều sau khi mất máu. 

Hiến máu phải đúng và an toàn. Đúng là tham gia HMNĐ khi cảm thấy hoàn toàn khoẻ mạnh và tình nguyện hiến máu cứu người. Lượng máu hiến khoảng 250ml với người dưới 50kg và 350ml – 450ml với người trên 50kg, không giao giờ quá 1/10 lượng máu cơ thể. Thời gian giữa hai lần hiến máu tối thiểu là 2,5-3 tháng. An toàn là việc lấy máu phải tuân thủ quy định của ngành y tế, các nguyên tắc vệ sinh, chống lây nhiễm và các chế độ bồi dưỡng, nghỉ ngơi thích hợp. 

Tuy nhiên, vẫn có một vài trường hợp chưa chuẩn bị tốt về tinh thần, do quá lo lắng, sợ hãi hoặc do đêm trước thức quá khuya, không ăn sáng… Sau khi hiến máu họ cảm thấy mệt mỏi, choáng, mặt tái nhợ, tuy nhiên các triệu chứng này chỉ cần nghỉ ngơi một lát là trở lại bình thường. Một số trường hợp cảm thấy cở thể mất quân bình ở những ngày sau khi hiến máu thì đây là phản ứng bình thường của cơ thể trong quá trình tái tạo máu, biểu hiện này sẽ nhanh chóng đi qua. 

Khoảng 3 tháng sau lần hiến máu thứ nhất, người bình thường có thể tham gia hiến máu nhiều lần vào các đợt tiếp theo gọi là hiến máu nhắc lại.Thực hiện hiến máu nhắc lại đúng như hướng dẫn sẽ tăng cường chức năng của các cơ quan sinh tạo máy, các chỉ số về máu sẽ ổn định và chất lượng máu sẽ tốt hơn. Vì thế, hiến máu đúng và an toàn không ảnh hưởng mà lại rất có lợi cho sức khoẻ. 

Đối với người con Phật thì HMNĐ là bố thí nội tài, biểu hiện cụ thế nhấ của lòng từ bi, vô ngã, vị tha. Khi được góp phần đem lại sự sống cho người khác sẽ làm cho tâm hồn thanh thản, tràn đầy nhân ái và cảm nhận đời sống của mình ý nghĩa hơn vì đã chia sẻ tình cảm cũng như trách nhiệm của bản thân đối với cộng động.

TRĂN TRỞ VỚI TÌNH CHA

Tôi thật bất hạnh vì sinh ra trong gia đình có một người cha ác độc, trăng hoa.Tôi bị cha ghét bỏ, mắng nhiếc, đánh đập tàn nhẫn và suýt nữa mấy mẹ con của tôi bị cha giết hại. Sau khi ông bỏ mẹ để chạy theo một người đàn bà khác, tôi mới được tạm yên và lớn dần lên trong vòng tay của mẹ. Giờ đây tôi đã lớn khôn, là một Phật tử thuần thành nhưng tôi không thể nào cảm nhận được một tình cha cao vời như trong kinh Phật dạy mà thay vào đó là sự căm hận.Vậy thì làm sao tôi có thể làm tròn câu hiếu đạo của con người? Hiện giờ tôi tôi biết cha có phần hồi tâm và đang lâm trọng bệnh, khó qua khỏi nhưng vì nghĩ đến quá khứ tôi lại buồn tủi nên không muốn về thăm lần cuối. Rất mong được chia se. |

ĐÁP:


Con người sống trên đời, ai cũng mong muốn yêu thương và được yêu thương, nhất là đối với những bậc cha mẹ đã dày công sanh dưỡng. Tình cảnh của bạn thật đáng thương nhưng không phải là cá biệt bởi hiện có không ít người cùng cảnh ngộ như bạn. Là một Phật tử, ít nhiều thì bạn đã nhận thức được dòng xoáy nghiệp lực mà nghiệp lại do chính bản thân mình tạo ra. Mọi hoàn cảnh của bản thân, gia đình, bà con, dòng tộc, quê hương, xứ sở cho đến dân tộc, quốc gia đều bị chi phối bởi nghiệp lực của cá nhân và cộng đồng. 

Không ai có thể chọn cho mình một gia đình tốt đẹo để sanh ra mà chính nghiệp lực của mình đã chủ động dẫn dắt. Gia đình là cộng nghiệp (nghiệp chung) và mỗi thành viên của gia đình là biệt nghiệp (nghiệp riêng). Vì oan gia trái chủ nhiều đời trước nên đời này cùng gặp nhau trong cộng nghiệp bất hạnh để trả báo. Vay trả, trả vay rồi tạo ra oan nghiệp chập chùng, bất tận. 

Cha của bạn, theo như bạn kể, không phải là một người cha tốt, không có tình thương, thiếu trách nhiệm, nhẫn tâm và ác độc. Bạn là nạn nhân của chính người cha lang sói, táng tận lương tâm. Vì thế, hình ảnh của người cha trong tâm trí của bạn thật đáng kinh sợ, khủng khiếp, tàn ác và phản ứng tình cảm của bạn khi đối diện với quá khứ là chan chứa hận thù. Niềm đau này rất lớn, nếu không hoá giải thì bạn sẽ ôm ấp nó đến trọn đời và mang chúng đến kiếp sau để tương oan tương báo. 

Có khi nào bạn nghĩ đến việc trong một đời quá khứ nào đó bạn đã làm cho cha bạn bất hạnh hay đau khổ đến cùng cực như chính bạn đang gánh chịu không?? Đây là mấu chốt của vấn đề để bạn có thể chuyển hoá hận thù. Cha của bạn có lỗi với bạn thật nhiều trong hiện tại, điều này đã quá rõ ràng. Nhưng nếu bạn bình tâm để nhìn sâu hơn dưới sự soi sáng của giáo lý Nghiệp thì bạn sẽ thấy rằng chính nghiệp nhân xấu ác của cha và cả gia đình, trong đó có bạn mới là thủ phạm. Hai cha con bạn chỉ là “nạn nhân” của nghiệp lực mà thôi. 

Quán sát như thế nào, bạn sẽ thấy nghiệp lực của cha quá nặng nề.Vì cha phước mỏng nghiệp dày nên tâm tối trong mọi hành xử, gây khổ đau cho vợ con: vì bạn có cộng nghiệp với cha nên cùng chung bất hạnh: cha thật đáng thương hơn đáng trách. Chừng nào bạn “thấy” được như vậy thì bạn mới tháo gỡ được căm hận dồn nén trong lòng. 

Mặt khác, dù không hề yêu thương, nuôi dưỡng bạn nhưng cha đã cho bạn một hình hài và điều quan trọng nhất là bạn đang tiếp nối sự sống của cha trong chính bản thân bạn. Cha đang có mặt trong bạn, cha không phải là đối tượng tách rời hoàn toàn với bạn. Do đó, sự hận thù của bạn hướng về người cha cũng chính là đang hận thù với mình. 

Vận dụng tuệ quán về nghiệp lực và sự tiếp nối huyết thống cũng như tâm linh giữa cha và bạn thì dần dần bạn có thể hiểu, tha thứ và thương cha một cách chân tình trọn vẹn. Chỉ cần làm được điều này, tự khắc bạn có đầy đủ cơ hội để làm tròn câu hiếu đạo. 

Bạn nên chu xếp về thăm cha lần cuối bởi dưỡng dục thì cũng sanh thành.Nghĩa tử là nghĩa tận, cơ hội để bạn thực tập từ bi hỷ xã đối với cha chỉ còn một lần. Ít nhất thì tâm hồn cha của bạn được an ủi phần nào khi thấy sự hiện diện của bạn dẫu rằng có thể bạn chưa thật sự hiểu trọn vẹn để thương. Buông xả và tha thứ cho cha, cho mọi người là cách hay nhất để tự cứu mình, cứu đời và tự giúp mình, giúp đời.

CÓ NÊN MUA CHIM PHÓNG SANH BÁN Ở CHÙA?

Chúng tôi được khuyên là không nên mua chim phóng sanh (bán ở chùa) để khỏi vô tình tạo thêm sát nghiệp chung cho người bẫy, người bán và cả người mua. Nhưng ở chỗ khác, chúng tôi lại nhận được lời khuyên là cứ mua, cứu được con nào hay con ấy vì trước sau gì thì lũ chim đó không chết đói cũng chết cháy (bán về lò quay, nướng). Cả hai lời khuyên đều hay, vậy phải làm như thế nào?

ĐÁP:

Phóng sanh là một pháp môn tu, thể hiện tâm từ bi của hàng Phật tử. Giải thoát chúng sanh ra khỏi kiếp ngục tù để chúng được sống tự do và an vui sẽ mang lại phước báo tốt đẹp. Vì thế, hàng Phật tử thường thực hành phóng sanh. 

Vấn đề là thực hành phóng sanh như thế nào để có được lợi ích? Tất nhiên muốn phóng sanh thì phải mua, đã mua ắt có người bán, người bẫy hay người bán có nghiệp và tội của họ; mua chim cá để phóng sanh là phước của mình. Không nên vội vã quy kết vì phóng sanh nên người ta mới bẫy và buôn bán, bởi lẽ chim cá bán ở chợ với mục đích chính là làm thực phẩm. 

Tuy nhiên, chúng tôi tán đồng ý kiến không nên mua chim phóng sanh được mang đến bán trong chùa.Trước hết, người phóng sanh thiếu tâm thành, nhân tiện có người mang đến bán thì mua phóng sanh luôn, nếu không gặp thì thôi. Mặt khác, việc làm này vô tình tiếp tay cho những người ác tâm, lợi dụng lòng từ của Phật tử, chuyên đánh bắt một vài loại chim (sẻ, én) để phục vụ cho phóng sanh. Ngoài ra, việc mua bán chim cá trong chùa sẽ làm mất đi sự tôn nghiêm, thanh tịnh của chùa chiền. Người Phật tử không thực hành phóng sanh theo kiểu “dịch vụ tận nơi”này. 

Nếu phát tâm phóng sanh, hãy ra chợ mua một cách tự nhiên, tuỳ khả năng và tâm nguyện, không cần số lượng nhiều, chỉ cần tâm thành. Tu tập từ bi, phóng sanh phải gắn liền với trí tuệ thì phước báo mới viên mãn. Nếu chúng ta phóng sanh ngẫu hứng và tuỳ tiện thì dễ dàng bị lợi dụng và lẩn quẩn trong việc lý giải cho hành động của mình.

NHÃN HIỆU NHANG IN HÌNH PHẬT VÀ BỒ TÁT

Là những người con Phật,chúng tôi rất buồn khi hiện nay có khá nhiều nhà sản xuất nhang (hương đốt) sử dụng hình ảnh Phật và Bồ tát làm nhãn hiệu cho sản phẩm. Đau lòng hơn, khi thấy những Phật tử đến chùa hoặc tại tư gia thắp nhang để lễ bái và cầu nguyện thì những nhãn hiệu có hình ảnh Phật, Bồ tát bi vất bỏ ra đất, bị giẫm đạp thật thương tâm và tội lỗi. Để tránh sự suy giảm phước đức vì tội vô tình huỷ báng, giẫm đạp “tôn tượng” đồng thời giữ trọn niềm tôn kính Phật và Bồ tát, chúng tôi kính mong quý Báo cho một giải pháp khả thi để khắc phục tình trạng này.

ĐÁP:

Vấn đề hình ảnh Phật, Bồ tát bị lạm dụng làm nhãn hiệu hàng hoá (nhang, đèn, thực phẩm chay…) và bị chính những người con Phật đi chùa đốt nhang vô tình huỷ phạm thật đáng để chúng ta trăn trở, ưu tư và tìm cách khắc phục. 

Tất cả mọi người ai cũng biết rằng tôn tượng, hình ảnh Phật, Bồ tát là đối tượng thờ kính rất thiêng liêng và bất khả xâm phạm của Tăng tín đồ Phật giáo.Tôn kính, lễ bài, bảo vệ chính mình, tranh, tượng Phật, Bồ tát là trách nhiệm và bổn phận của mỗi người con Phật. 

Trước hết, chúng ta phải thừa nhận rằng có khá nhiều người đốt hương lễ Phật rồi xả bỏ nhãn hiệu, bao bì các loại hương đèn có in hình Phật, Bồ tát ra nền đất, bị những người vô ý giẫm đạp là chuyện có thật. Nhất là vào những dịp Tết và các ngày lễ lớn, người đốt hương tấp nập thì thực trạng này lại càng nghiêm trọng hơn. Dù các hình ảnh Phật, Bồ tát ở đây chỉ là nhãn hiệu và bao bì của hàng hoá nhưng nếu bất cứ ai dù vô tình giẫm đạp lên cũng bị tổn giảm phước đức. 

Để khắc phục tình trạng nêu trên, biện pháp khả thi trước mắt là mỗi chua phải thực sự lưu tâm, trực tiếp giáo dục, giảng dạy cho Phật tử ý thức tôn trọng, kính ngưỡng hình ảnh Phật, Bồ tát. Ở gia đình, khi đốt hương xong, người Phật tử phải đem hình Phật, Bồ tát cất giữ hoặc đốt cháy. Tuyệt đối không được đem bỏ vào sọt rác hoặc vứt bỏ bừa bãi. Khi Phật tử đến chùa thắp hương, để góp phần làm giảm thiểu và hướng đến chấm dứt việc hình ảnh Phật, Bồ tát bị quãng bỏ vung vãi, bị giẫm đạp nơi chùa mình bằng cách nhà phải thiết lập một nơi riêng để Phật tử đốt nhang trước khi vào dâng hương lễ Phật.Chính tại nơi này, bên ngọn lửa là chiếc hộp (thùng) đựng bao bì, nhãn hiệu hương, kèm theo bảng hướng dẫn hoặc cử người trực tiếp hướng dẫn. Khi thùng đựng bao bì đầy, nhà chùa mang đi hoả hoá (tìm một nơi thích hợp đốt cháy sạch sẽ). Chúng tôi nghĩ rằng, giải pháp này tuy có tính tạm thời nhưng nếu mỗi chùa đều nỗ lực thì sẽ giải quyết được tình trạng xúc phạm hình ảnh Phật, Bồ tát do việc thắp hương tấp nập gây ra. 

Một vài chùa có sáng kiến khá hay góp phần giảm thiểu rất lớn tình trạng đã nêu bằng cách mua hương về phân thành những bó nhỏ, bọc giấy vàng hoặc đỏ để trên kệ, trước cửa chùa cùng với đèn và thùng rác. Phật tử đến chùa lúc nào cũng có nhang đèn sẵn sàng, chỉ “tuỳ hỉ” mà không cần mua hương bên ngoài. Với phương thức này, nếu những ai thiếu ý thức giữ gìn trang nghiêm nơi chùa tháp thì chỉ có giấy rác thuần tuý mà không hề có hình ảnh Phật, Bồ tát. 

Tuy nhiên, để giải quyết triệt để vấn đề thì phải hướng đến sự chấm dứt việc lạm dụng hình ảnh Phật, Bồ tát là nhãn hiệu cho sản phẩm hàng hoá. Theo khảo sát của chúng tôi, ngoài những cơ sở sản xuất “chui” còn lại những cơ sở khác chuyên sản xuất hương đốt dùng nhãn hiệu với hình Phật, Bồ tát có cơ sở pháp nhân, pháp lý rất rõ ràng được in trên bao bì. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi có sự kiến nghị, can thiệp một cách kiên quyết của Giáo hội với Nhà nước, với cơ quan chứng nhận, cấp phép đăng ký nhãn hiệu sản phẩm và với cơ sở sản xuất. 

Thiết nghĩ, ngăn chặn việc lạm dụng hình ảnh Phật, Bồ tát vì mục đích thương mại là điều tối cần và điều này chỉ duy nhất các cấp Giáo hội mới làm được. Trong khi chờ đợi sự can thiệp của Giáo hội, mỗi người con Phật, mỗi chùa có thể vận dụng các phương thức đã nêu hoặc tự tìm ra một giải pháp cho riêng mình để giảm thiểu đến mức thấp nhất sự vô tình huỷ phạm hình ảnh Phật, Bồ tát đang phổ biến, làm tổn giảm phước đức và tổn thương lòng kính trọng đối với tất cả những người con Phật.

CHO VAY – NGHỀ TÀ MẠNG

Tôi là Phật tử,năm nay 34 tuổi, làm công nhân.Vợ của tôi làm nghề “cho mượn tiền”. Nay tôi đã nghỉ làm, ở nhà và chở vợ đi thâu tiền. Được tôi phụ giúp thì công việc phát triển, làm ăn càng lớn thêm nhưng thật lòng thì tôi không thích nghề ấy. Hiện tại gia đình tôi rất đầy đủ nhưng gặp nhiều trở ngại, có nguy cơ tan vỡ. Chúng tôi thường cãi nhau vì công việc, vì không có thì giờ chăm sóc con cái và nhất là những khi tôi thâu không được tiền. Có điều, tuy làm nghề ấy nhưng tâm kính của vợ tôi cũng rất tốt, ưa làm phước. Nhiều lần tôi khuyên cô ấy nên rút vốn lại rồi tính chuyện khác để làm ăn nhưng ngoài nghề này vợ tôi không biết làm gì khác. Sự việc kéo dài đã ba năm nay, vì khuyên vợ không được nên nhiều lúc tôi rất buồn, muốn bỏ nhà ra đi. Mong được chỉ bày để gia đình tôi được hạnh phúc lâu dài.

ĐÁP:

Là Phật tử nên bạn thao thức về một nghề nghiệp chân chính và một đời sống lương thiện là điều đáng khích lệ. Nghề “cho mượn tiền” là tên gọi khác của nghề cho vay lấy lãi. Nói chung, theo quan điểm của Phật giáo thì nghề này không phải là Chánh mạng, tức không phải một sinh kế lương thiện, chân chính. 

Theo như bạn tâm sự thì vợ của bạn là người tâm tính rất tốt, ưa làm phước. Điều này cho thấy động cơ ban đầu để cô ấy chọn nghề “cho mượn tiền” làm sinh kế vì hoàn cảnh bản thân và cuộc sống hơn là vì ác tâm “cắt cổ” những người cần tiền để xoay xở công việc của người cho vay nặng lãi. Đây chính là mấu chốt của vấn đề, đồng thời mở ra cơ hội cho niềm mong ước và hy vọng của bạn sẽ trở thành hiện thực. 

Nghề nào cũng có những “nghiệp” riêng của nó nhưng đối với nghề “cho mượn tiền” thì nghiệt ngã hơn. Nếu công việc trôi chảy, lợi nhuận càng nhiều thì tham lam càng lớn. Ngược lạ, nếu như người mượn tiền mà làm ăn không được suôn sẽ thì rất khó thâu tiền lời (hoặc vốn) đúng như đôi bên đã thoả thuận. Do vậy, ngoài cách thâu tiền bình thường nhẹ nhàng và vui vẻ, những người làm nghề này đa phần phải trang bị thêm một chút “máu mặt” mới tác nghiệp thành công. Ít thì trợn mắt, cau mày; vừa thì cãi vã, tiếng to lời lớn; nặng thì xô xát, ẩu đả và nghiêm trọng là “xiết” đồ đạc của người mượn để phục hồi vốn, thậm chí có thể gây ra án mạng v.v… 

Đúng lúc ban đầu bước chân vào nghề này không phải ai cũng là người dữ dằn, tham lam, lạn lùng và chỉ biết đến tiền.Nhưng vì bản chất của công việc này dễ dàng đưa người ta đến chỗ tham lam, tha hoá, biến chất. Càng thành công, thâm niên và bản lĩnh với nghề bao nhiêu thì con tim phải càng nhiều “máu lạnh” bấy nhiêu. Miễn là thâu được tiền, có lời và mặc nhiên với tất cả. Đây chính là quá trình tạo nghiệp theo chiều hướng xấu ác, chắc chắn rằng với những ác nghiệp mình đã tạo ra thì hậu quả tự thân và gia đình sẽ gánh chịu . 

Bạn đã nhận ra sự nguy hiểm của vấn đề nhưng vợ của bạn thì chưa vì tiền lời kiếm được khá dễ dàng đã làm cô ấy mờ mắt. Hiện tại gia đình bạn đang sung túc là do phước báo đời trước còn dư lại. Nếu phước báo ấy không được tích luỹ, bồi bổ và phát triển thêm mà ngược lại vợ của bạn đang làm cho phước báo của gia đình ngày càng giảm đi bằng nghề cho vay nặng lãi. Sự lục đục trong gia đình, nguy cơ tan vỡ hạnh phúc mà bạn định bỏ nhà ra đi là minh chứng cụ thể của việc suy giảm phước báo. 

Để cứu vãn và cải thiện hạnh phúc gia đình đồng thời tránh hậu quả xấu ác do nghề tà mạng đem lại, bằng mọi cách bạn phải thuyết phục vợ của bạn chấm dứt, đoạn tuyệt với nghề cho vay. Tiền lời kiếm được rất cao và dễ dàng từ nghề “cho mượn tiền”, theo Phật giáo thì chính các bạn đang “vay nóng” của người khác. Đã vay thì phải trả, nhân nào quả nấy nên bạn và gia đình không thể trốn thoát được cái nợ này. Phải nhanh chóng chuyển sang một nghề khác như buôn bán nhỏ chẳng hạn, dẫu cho lợi nhuận ít, vất vả hơn nhưng chính đáng, lương thiện, bằng mồ hôi và công sức của chính mình,thì mới chắc thật là của mình. Phải can đảm để nhìn ra sự thật, đừng vì cái lợi trước mắt mà chịu cái hại lâu dài, kiếp này và nhiều kiếp sau. 

May mắn là vợ bạn vẫn còn chút thiện tâm ưa làm phước, nhưng chút phước ít ỏi ấy không thể lấp đầy cái tội vô cùng to lớn, như nắm muối quẳng xuống dòng sông, nếu cứu duy trì chắc chắn nghiệp quả xấu ác sẽ xảy đến trong nay mai mà thôi. Kiếm tiền để sống tuy rất cần nhưng cần hơn vẫn là sự lượng thiện. Sống sung sướng trên sự đau khổ của kẻ khác thì chắc chắn kông lâu bền. Mong rằng vợ của bạn sớm tỉnh thức, bớt tham lam, trở về sống với một nghề lao động chân chính và cùng bạn xây dựng hạnh phúc gia đình.

HOA VÔ ƯU CÓ PHẢI LÀ HOA ƯU ĐÀM KHÔNG?

Hoa Vô Ưu có phải là hoa Ưu đàm không? Nếu không phải thì tại sao Thái tử Tất Đạt Đa hạ sinh dưới cội Vô ưu nhưngkhi nói về Đản sanh của Phật thì lấy biểu tượng hoa Ưu đàm?

ĐÁP:

Vô ưu, Phạn ngữ Asoka, Hán ngữ phiên âm A du ca, A thúc ca, A thuật ca… dịch nghĩa là Vô ưu hoa, hoa không ưu tư phiền muộn. Theo Tiến sĩ Rupa A. Shah, Đại học Bombay thì hoa Vô ưu có tên thực vật học là Saraca Indica or Jonesia Ashok, thuộc họ Caesalpaeniaceae, cây thân mộc, hoa màu vàng cam. Màu ra hoa khoảng giữa tháng Tư và tháng Năm. Hoa được phát hiện ở vùng trung tâm phía Đông dãy Himalaya và vài khu vực phía Tây bờ biển Bombay . 

Theo kinh luận thì Vô ưu là loại hoa thân mộc, trổ hoa vào mùa Xuân, mọc rất phổ biến ở xứ Thiên Trúc.Khi hoa nở, đoá lớn, sắc đẹp, hương thơm, ong bướm hút mật không biết chán. Phụ nữ Ấn Độ rất ái một và tôn kính cây hoa này. Theo thần thoại (Ramayana), nàng Sita khi bị ác thần Ravana nhiễu hại đã trốn dưới cây Vô ưu và kháng cự thành công.Vì thế, hoa Vô ưu rất được phụ nữ Ấn tôn trọng và loại hoa quý để dâng cúng được thần Siva. Tương truyền,loài cây này cũng cảm nhận được tình cảm của con người nên được phụ nữ chăm sóc thì trổ hoa mau và rất nhiều. 

Tại vườn ngự uyển lâm Tỳ Ni, hoa Vô ưu được trồng rất nhiều. Hoàng hậu Ma Gia cùng đoàn tuỳ tùng xa giá rời Ca Tỳ La Vệ trở về quê ngoại để sanh con đầu lòng, theo tập tục Ấn Độ thời bấy giờ. Khi ngang qua vườn Lâm Tỳ Ni, hoàng hậu ra lệnh dừng lại để người vào lâm viên nghỉ ngơi, đi dạo và ngoạn cảnh. Khi đi đến dưới cây Vô ưu, thấy hoa nở rộ, ngào ngạt hương thơm bèn đưa tay vin cành hoa Vô ưu, liền khi đó hạ sanh Thái tử. 

Ưu đàm cũng là một loại cây có hoa nhưng là loại cây thiêng (linh thọ). Theo Phật giáo, hoa Ưu đàm nở là một điềm lành. Ưu đàm, Phạn ngữ Udumbara, Hán ngữ phiên âm thành Ưu đàm bà la, Ô đàm bạt la, Ô đám bát la, Uất đàm v.v… Hoa Ưu đàm có tên Ưu đàm bát hoa hay Ưu bát hoa gọi tắt là Đàm hoa, dịch nghĩa là Linh thuỵ hoa, Thuỵ ứng hoa, Không khởi hoa. Theo Từ điển Phật học Hán Việt, NXB. Khoa Học Xã Hội thì: “Cây Ưu đàm không thuộc loại hoa quả, mọc ở các nơi như núi Himalaya , cao nguyên Đê-can và nước Xây-lan v.v… Thân trơn, một thứ thô nhám, cả hai thứ đều dài khoảng 4,5 tấc nhọn đầu. Hoa lưỡng tính rất bé, mọc kín ở lõm sâu trong đài hoa, nên thường nhầm là loại cây không hoa. Hoa xếp như nắm tay hoặc như ngón tay cái, thành chùm hơn chục đoá, ăn được nhưng vị không ngon”. Sách Huyền lâm ứng nghĩa, quyển 21 mô tả về Ưu đàm “lá cây có hoa nhưng ít xuất hiên, khó trồng”. Đặc biệt, hoa Ưu đàm có mùi thơm xông khắp vô lượng thế giới (Vô Lượng Thọ Kinh). Cứ vào các đặc điểm được mô tả về thân, lá, hoa và quả của Ưu đàm và Vô ưu thì chắc chắn Ưu đàm và Vô ưu là hai loại cây hoa hoàn toàn khác biệt nhau. 

Đúng là Thái tử Tất Đạt Đa được sinh ra dưới cội Vô ưu. Tuy nhiên, khi nói về Phật đản sanh lại lấy hoa Ưu đàm làm biểu tượng là do một nguyên nhân khác. Hoa Ưu đàm, theo quan niệm của Phật giáo là một hoa linh thiêng, cực kỳ quý hiếm “ba ngàn năm mới nở một lần” nên mang ý nghĩa hy hữu, hiếm có, khó gặp. Mặt khác, hoa Ưu đàm nở là điềm lành báo hiệu Đực Phật ra đời hay có bặc Luân vương xuất thế,vì lẽ ấy mà hoa Ưu đàm được gọi là hoa Linh Thuỵ. Theo Pháp hoa văn cú: “Ưu đàm là loại hoa thiêng, ba ngàn năm mới nở một lần, mỗi làn hoa nở thì có Đức Phật ra đời”.Do các đặc điểm này, hoa Ưu đàm thường được làm ảnh dụ cho sự kiện xuất thế hy hữu của Đức Thế Tôn trong văn học và kinh điển Phật giáo. 

Như vậy, Thái tử Tất Đạt Đa đản sanh dưới cội Vô ưu trong vườn Lâm Tỳ Ni là một sự thật lịch sử. Còn việc dùng hoa Ưu đàm làm ảnh dụ cho sự kiện xuất thế của một Bậc Giác ngộ là một chuyện khác. Vì thế, khi bàn đến Đản sanh của Phật Thích Ca thì hoa Vô ưu được xem như một chứng tích, gắn liền với một sự kiện lịch sử cụ thể còn hoa Ưu đàm là ảnh dụ của sự kiện lịch sử vĩ đại và hy hữu ấy.Dẫu chắc rằng Ưu đàm đã khai hoa vào dịp ấy nhưng không phải nơi vườn Lâm Tỳ NI.Do vậy, hoa Vô ưu nở vào mùa Xuân mỗi năm là chuyện bình thường nhưng nói đến hoa Ưu đàm nở, tự khắc ta liên tưởng đến đại sự nhân duyên, một vị Phật đản sanh, Bậc Giác ngộ xuất hiện.

THIÊN TAI – SÓNG THẦN

Thảm hoạ sống thần ở Nam Á vừa qua đã làm thiệt mạng hơn 150 ngàn người. Trong đó, ngoài cư dân địa phượng ven biển chịu thiệt hại nặng nề còn có rất nhiều người ở những nơi khác đến. Xin hỏi nguyên nhân vì sao có những người không ở ven biển mà lại đến vào dịp đó để chịu tai nạn, trong khi lại có nhiều người địa phương trải qua sóng gió nhưng vẫn an toàn? Có người cho ằng thảm hoạ này là sự trừng phạt của đấng tối cao, ý kiến nào đúng?

ĐÁP:

Trước hết, những người con Phật chúng ta hãy đốt nén âm hương hướng về những người bị nạn để cầu nguyện, chia sẻ và cảm thông với những nạn nhân và thân nhân đã chịu nhiều mất mát của thiên tai sóng thần. Thảm hoạ thiên nhiên này đã cướp đi rất nhiều sinh mạng, tàn phá tất cả những cơ sở vật chất và để lại hậu quả rất nặng nề cho những địa phương bị thuỷ tai và cả thế giới. 

Theo quan điểm của Phật giáo,tất cả những thay đổi hoặc biến động của con người và thế giới dù theo hướng tích cực hay tiêu cực cũng đều do nghiệp lực tác động và chi phối. Nghiệp và nhân quả là nguyên lý cơ bản của mọi sự vận hành, sinh diệt, thành hoại… Nghiệp được triển khai trên nhiều phương diện ở đây, vấn đề các bạn đưa ra thuộc lãnh vực biệt nghiệp và cộng nghiệp. 

Biệt nghiệp là nghiệp riêng của mỗi chúng sanh. Con người chẳng ai giống với ai cả về nhiều phương diện, đó là biệt nghiệp. Tuy khác nhau về cơ bản nhưng lại có những nghiệp tương đồng nên hình thành các cộng nghiệp. Một cá nhân trong gia đình là biệt nghiệp, gia đình của họ là cộng nghiệp. Có nhiều cộng nghiệp khác nhau như gia đình, dòng họ, quê hương, công sở, dân tộc, quốc gia… Mặc dù khác biệt nhau nhưng giữa biệt nghiệp và cộng nghiệp có mối quan hệ và tác động qua lại rất mật thiết. Biệt nghiệp có khả năng tác động rất lớn đến cộng nghiệp và ngược lại. 

Những người chết do thiên tai sóng thần, ắt hẳn mỗi người có một biệt nghiệp khác nhau nhưng đều có chung cộng nghiệp là chết đuối. Vì thế nạn nhân của thiên tai này không chỉ là dân địa phương mà còn có khách du lịch và những người ở các nơi khác đến đó làm việc bởi họ có cùng cộng nghiệp. Vì có cùng cộng nghiệp chết do thuỷ tai nên những người dù ở những nơi rất xa, vẫn tìm đến các nơi có thiên tai để du lịch hoặc làm việc trong thời điểm xảy ra sóng thần để cùng chịu thảm hoạ. 

Trong trường hợp những người dân địa phương trải qua sóng gió vẫn còn sống sót là vì tuy cùng cộng nghiệp bị thuỷ tai nhưng biệt nghiệp của họ khác nên may mắn thoát chết trong gang tấc, không bị nước nhận chìm và cuốn trôi. Các tai nạn khác cũng vậy, như cháy rừng, cháy nhà, rơ máy bay, tàu xe lâm nạn… cũng vậy, có rất nhiều người chết nhưng đôi khi có vài người sống sót. Vậy, những người có mặt trong tai nạn đều có cùng cộng nghiệp bị nạn nhưng nếu thoát chết là nhờ biệt nghiệp, phước đức riêng của họ. 

Những người sống sót trong trận huỷ tai này và các tai nạn khác, theo Câu xá luận là do Cộng trung bất cộng nghiệp. Trong nghiệp chung có cái nghiệp riêng, những nơi có sóng thần quét qua,tất cả mọi người đều bị nước cuốn phăng nhưng vài người may mắn thoát chết. Mặt khác , ngoài Cộng trung bất cộng nghiệp còn có Bất cộng trung cộng nghiệp, có cái nghiệp chung trong cái không chung. Nghĩa là những người không bị thiệt mạng, không cùng cộng nghiệp chết đuối do sóng thần vẫn chịu chung cộng nghiệp của thiên tai vì mang nhiều nỗi tang thương, mất mát và ảnh hưởng của thảm hoạ ấy đến đời sống rất nặng nề. Những nỗ lực cứu trợ và khắc phục thuỷ tai của mọi người khắp thế giới đồng thời hậu quả của nó tác động lên cuộc sống chính là nghiệp chung (của mọi người) trong cái không chung (những người đã chết). 

Theo quan điểm của Phật giáo thì không hề có một đấng thiêng liêng hay tối cao nào có quyền định đoạt số phận của con người và thế giới cả mà chỉ do nghiệp của con người tạo ra và trở lại chi phối chính con người và thế giới. Những thảm hoạ thiên nhiên xảy ra liên tục gần đây đều có sự tham gia gián tiếp hoặc trực tiếp của con người. Trong đó, những tham vọng vô bờ, những sân hận tàn phá của chiến tranh,những hành động gây ô nhiễm và huỷ hoại môi trường thiên nhiên, phá vỡ cân bằng sinh thái là nguyên nhân căn bản nhất. Con người huỷ hoại thiên nhiên rồi thiên nhiên đe doạ, huỷ hoại con người đó chính là Nghiệp. 

Biệt nghiệp tác động lên cộng nghiệp, cộng nghiệp lại chi phối các biệt nghiệp cùng với các tương hệ giữa Cộng trung bất cộng nghiệp và Bất cộng trung cộng nghiệp đã hình thành thực trạng vô cùng đa dạng của con người và thế giới. Qua giáo lý Nghiệp, thì niềm đau thiệt hại, mất mát là niềm đau chung của toàn thể nhân loại đồng thời ý thức xây dựng và bảo vệ con người cùng thế giới là nỗ lực, trách nhiệm của tự thân mỗi người.

CẦU SIÊU VÀ VÃNG SANH

Do hoàn cảnh cuộc sống và gia duyên ràng buộc nên tôi không tu tập được nhiều nhưng lúc lâm chung chỉ cần tỉnh giác niệm Phật thì có được vãng sanh không? Người không tu pháp môn Niệm Phật thì có được vãng sanh về cực Lạc không? Nếu không thì họ sanh về đâu? Tôi thường thấy đến kỳ chung thất, các gia đình thường tổ chức lễ cầu si6u cho thân thân rất trọng thể; xin hỏi có thể tổ chức lễ cúng đường, bố thí để cầu siêu trong các tuần thất trước mà không đợi đến kỳ chung thất được không? Có nên đợi đến chung thất không?

ĐÁP:

Lúc sắp lâm chung mà tỉnh giác niệm danh hiệu Phật Di Đà, tất nhiên được vãng sanh. Tuy nhiên, để có được thành quả này là điều không đơn giản, công phu niệm Phật phải đạt đến nhất tạm bất loạn, phải huân tu niệm Phật cả đời. 

Cận tử nghiệp sẽ phát huy sức mạnh cùng với sự đau đớn về thể xác và mê mờ của tâm thức làm cho những người công phu cạn cợt không thể giữ được chánh niệm. Do vậy, ngay từ bây giờ, nếu muốn vãng sanh thì phải nỗ lực niệm danh hiệu Phật. 

Thành tựu vãng sanh được thiết lập trên nền tảng tín thâm, nguyện thiết và hạnh chuyên. Tin tưởng tuyệt đối vào nguyện lực của Phật Di Đà, cảnh giới Tịnh độ, sự vãng sanh. Lập chí nguyện vãng sanh một cách tha thiết, thành khẩn và kiên cố. Nỗ lực hành trì niệm danh hiệu Phật A Di Đà thật tinh cần, chuyên nhất cho đến không gián đoạn. Phải thực hành đầy đủ, trọn vẹn ba món tư lương Tín-Nguyện-Hạnh mới có khả năng thành tựu vãng sanh. 

Nếu nhận thức đơn thuần rằng chỉ cần công phu bình thường, sơ sài nhưng khi lâm chung thì “tinh tấn” một chút là được vãng sanh, điều này không thể xảy ra. Ngay cả những người suốt đời tu tập vẫn cần sự hộ niệm và trợ tiến bởi vì năng lực trợ niệm sẽ giúp cho họ duy trì chánh niệm vào danh hiệu Phật vững vàng hơn trước bão tố của cận tử nghiệp. 

Đối với các hành giả phát tâm niệm danh hiệu Phật A Di Đà, cầu sanh Tịnh độ, nếu tinh tấn tu học, công phu niệm Phật sâu dày thì chắc chắn được vãng sanh. Tuỳ theo năng lực tu tập của mỗi người mà vãng sanh vào một trong chín phẩm của Tây phương Cực Lạc, cảnh giới y báo Phật A Di Đà. 

Riêng đối với những hành giả chọn những pháp môn tu tập khác như tu Thiền chẳng hạn, mục đích chính của những vị này là đoạn trừ phiền não và thành tựu giải thoát. Lẽ tất nhiên nếu đã hoàn toàn giải thoát, thành tựu Niết bàn thì không còn liên hệ đến tái sanh nữa ngoại trừ vị ấy phát thệ nguyện tái sanh để hành Bồ tát đạo, cứu độ chúng sanh. 

Trong trường hợp chưa đạt được giải thoát, Niết bàn trong đời này thì họ sẽ tái sanh vào một cảnh giới tương ứng với thiện nghiệp của họ. Và tất yếu, với thiện nghiệp tu tập trong đời này họ sẽ tái sanh vào các cảnh giới tốt đẹp, phước báo thù thắng nơi các cảnh giới ấy tạo thêm thắng duyên cho họ tu tập đến giải thoát hoàn toàn. 

Theo quan điểm của Phật giáo Bắc truyền, con người sau khi chết, thân trung ấm tồn tại tối đa là 49 ngày (bảy thất). Đến chung thất, tuần thất cuối cùng, thân trung ấm sẽ tái sanh vào một cảnh giới nào đó tương ứng với nghiệp lực. Vì vậy, tuần chung thất thường được tổ chức trọng thể nhằm cầu siêu và hồi hướng phước báo cho hương linh có thêm tư lương để sanh về cõi lành. 

Tuy nhiên, không nhất thiết phải đợi đến chung thất vì thân trung ấm sẽ tái sanh vào bất cứ thời điểm nào trong bảy tuần nếu nhân duyên hội đủ. Do đó, nếu gia đình có chủ ý làm các điều phước thiện như cúng dường và bố thí để hồi hướng cho hương linh thì thực hiện càng sớm càng tốt. 

Trong khi chờ kết nghiệp để tái sanh, hương linh rất mong mỏi gia đình tu tạo phược đức để hồi hương cho họ.Nếu được ân hưởng phước báo và nguyện lực khi chưa tái sinh sẽ có tác động rất tích cực đến xu hướng cảnh giới tái sanh. Còn nếu đã tái sanh rồi, hương linh vẫn được phước báo từ sự trợ duyên của thân nhân nhưng không thể thay đổi cảnh giới đã thọ sanh. Vì vậy, nếu điều kiện cho phép thì thân nhân nên nhanh chóng tổ chức cầu siêu và hồi hướng phước báo cho hương linh mà không nhất thiết phải đợi đến chung thất.

THÂN TRUNG ẤM

Xin cho biết khái quát về các phương diện liên quan đến thân trung ấm?

ĐÁP:

Thân trung ấm còn được gọi là thân trung hữu, hương ấm. Thân trung ấm là “ấm hình sở thụ giữa chừng lúc cái này chết, cái kia sanh. Con người sau khi chết mà chưa sanh lại thì đang ở ấm cảnh” (Từ điển Phật học Hán Việt, NXB KHXH, tr.1388). Thân trung ấm là loại thân trung gian, sau thân tiền ấm (thân trước khi chết) và trước thân hậu ấm (thân sau khi đầu thai). Sở dĩ gọi là thân trung hữu vì quả báo sanh tử là có chứ chẳng phải không, nên gọi là Hữu. Có thân quả báo trong khoảng giữa đời hiện tại và vị lai nên gọi là Trung hữu. Do thân trung ấm (cõi Dục) thọ dụng và nuôi dưỡng thân bằng mùi (hương), nghĩa là chỉ ăn mùi vị của thức ăn nên còn gọi là Hương ấm. 

Về hình dáng, tuỳ theo khuynh hướng tái sanh vào loài nào trong tam giới mà thân trung ấm có hình dáng tương tự với thân của loài chúng sanh đó. Riêng những chúng tái sinh vào cõi Vô sắc giới thì không có thân trung ấm (Kinh Niết Bàn, quyển 34). Theo luận Câu xá (Bồ tát Thế Thân),nếu do nghiệp được tái sanh vào cõi người thì thân trung ấm có hình dáng của trẻ con khoảng năm đến sáu tuổi, các giác quan đầy đủ, được cấu thành bằng chất liệu vi tế (sắc công năng) nên giác quan của thân trung ấm nhạy bén hơn chúng ta rất nhiều. 

Do nghiệp thông nên khả năng thấy, nghe, di chuyển… của thân trung ấm gần như vô ngại. Thân trung ấm có thể thấy và nghe rất xa, thấu suốt vũ trụ, không có gì trở ngại. Thân trung ấm di chuyển mau lẹ, đi và đến trong nháy mắt, xuyên qua tất cả các vật cản trừ ra toà Kim cang của chư Phật và một khi đã vào bào thai thì không thể chui ra được. Khi di chuyển, bay lượn, thân trung ấm của loài chư Thiên đầu hướng lên; loài người, súc sanh và ngạ quỷ nằm ngang; loại địa ngục đầu chúc ngược xuống đất. 

Về màu sắc, thân trung ấm của loài Địa ngục hình dáng xấu xí, màu sắc đen như than; loài Súc sanh màu sắc xám như khói; loại Ngạ quỷ màu sắc nhạt như nước; loài người và trời màu sắc như vàng ròng; thân trung ấm của chư thiên Sắc giới màu sắc rất đẹp, sáng tỏ. Ngoài ra, thân trung ấm của kẻ tạo nhiều ác nghiệp có ánh sáng màu đen hay xám, còn nếu tạo nhiều thiện nghiệp có ánh sáng màu trắng như điện. 

Tâm lý chung của thân trung ấm đa phần là buồn, bức xúc, bất ổn và thống khổ. Trước hết là cảm thương thân phận đã chết, thương nhớ vợ con, luyến tiếc tài sản. Buồn khổ bởi vì thân trung ấm thấy nghe và mong muốn giao tiếp với những người thân như bình thường nhưng chúng ta không hề biết gì về thân trung ấm cả nên họ cảm thấy bất lực, mặc cảm và bức xúc. 

Cùng với sự chiêu cảm của nghiệp lực quá khứ, những luồng gió nghiệp lực thổi nát thân trung ấm, trong không gian vô số ánh sáng và hào quang hỗn sắc lập loè, những âm thanh gầm rú điên loạn và sự đe doạ của những loài ác quỷ, tất cả ngoại duyên rùng rợn ấy làm cho thân trung ấm vô cùng lo sợ, hoảng hốt và cực kỳ thống khổ. 

Tuổi thọ của thân trung ấm tối đa là bảy ngày (theo quan điểm của luận sư Thế Hữu), sau một tuần thất nếu không tìm được chỗ đầu thai thì chết và tuỳ theo nghiệp thọ thân trung ấm kế tiếp nhưng trong vòng bốn mươi chín ngày (bảy thất) thì thân trung ấm phải tìm được chỗ thọ sanh. Quan điểm của luận sư Thiết Ma Đạt Đa, thân trung ấm có tuổi thọ bốn mươi chín ngày. Theo luận sư Pháp Cứu thì thân trung ấm tồn tại không hạn chế thời gian nếu nhân duyên chưa đủ để đầu thai, ví dụ như nhân duyên để cho một vị Chuyển luân vương tái sanh không phải là dễ. Ngoài ra, luận Tỳ bà sa khẳng định thời gian tồn tại của thân trung ấm là rất ngắn (Minh Chi, Phật học cơ bản, tập I,Thuyết tái sinh, tr.251). 

Vấn đề thân trung ấm, hiện tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong các bộ phái Phật giáo.Trước hết các bộ phái sau đây không chấp nhận có thân trung ấm như: Thượng toạ bộ, Hoá địa bộ, Phân biệt thuyết bộ thể hiện trong Thành thật luận (Harivarman), Thanh tịnh đạo luận (Buddhaghosa). Còn các bộ phái chấp nhận sự hiện hữu của thân trung ấm như: Đông sơn bộ, Chánh lượng bộ và đặc biệt là Hữu bộ với Câu xá luận (Vasubandhu). (Dương Bá Y, Phật giáo căn bản vấn đề nghiên cứu, quyển II, phần Sanh hữu chi nghiên cứu, tr.375, bản chữ Hán). 

Phật giáo Nam truyền ngày nay không chấp nhận có thân trung ấm, người chết xong thì tái sanh ngay như ngọn đèn khác thì cháy ngay (Thanh tịnh đạo luận). Phật giáo Bắc tông, hầu hết các tông phải chủ trương có thân trung ấm. Riêng phật giáo Tây Tạng nghiên cứu rất chi tiết về thân trung ấm và những phương thức để khai thị, chuyển hoá thần thức (Sogyal Rinpoche, Tạng thư Sống Chết).

NHỮNG HIỆN TƯỢNG LẠI XẢY RA LÚC TOẠ THIỀN

Tôi ngồi thiền thấy có một hiện tượng lạ là có một luồng sáng như tấm lụa trắng, bề ngang khoảng một tấc rưỡi, kéo dài từ hư không xuống thẳng đỉnh đầu. Ba ngày sau, tôi ngồi thiền lại thấy Bồ tát Quán Thế Âm, rồi sau đó cảm thấy toàn thân tôi là Bồ Tát Quán Thế Âm đang ngồi trên toà sen. Các hiện tượng này xảy ra khoảng chừng vài phút. Liền đó, tôi và gia đình bị tai hoạ chút nữa mất mạng. Kính hỏi, những điều tôi thấy có phải là điềm gở được báo trước? Có ảnh hưởng gì đến tu tập và đời sống không?

ĐÁP:

Trong khi toạ thiền, tất cả các hiện tượng lạ xuất hiện (dù thấy rất thật) đều là vọng cảnh. Vì thế, khi các ảo cảnh xuất hiện, hành giả cần bình tĩnh (không sợ hãi và cũng không đắm trước) an trú tâm vào chánh niệm thì các vọng cảnh tự tiêu tan. Trường hợp “thấy” Phật và Bồ tát cũng vậy, cứ giữ tâm vào đề mục đang tu tập (hơi thở, danh hiệu Phật…), không nên rời bỏ chánh niệm. Giữ tâm thanh tịnh, tĩnh lặng và sáng suốt đồng thời an trú vào chánh niệm bất động là điều tối cần cho một hành giả trong lúc toạ thiền. 

Tai hoạ của bạn và gia đình là nghiệp lực đến lúc chín muồi không liên quan gì đến việc bạn “thấy” trong thiền định, đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi. Không nên tự ám ảnh bởi những vọng cảnh trong thiền định rồi liên hệ đến gì xảy ra trong đời sống hàng ngày. Tất cả những vọng cảnh đều hư vọng, đến và đi liên tục nhất là đối với những hành giả mới bắt đầu dụng công. Chỉ có những bậc Thánh (từ A la hán trở lên) mới có khả năng nhập thiền để quán sát các nhân duyên quá khứ vị lại. 

Đối với người tu thiền, chuyện “thấy” những hiện tượng lạ tương tự như vậy là bình thường và không có gì để họ quan tâm bởi tất cả là hư vọng. Vì thế, bạn cứ tu tập bình thường, theo thời gian chánh niệm lớn mạnh dần lên đồng thời các vọng niệm thưa dần rồi mất dần.

GIÁM TRAI SỨ GIẢ

Tôi thấy ở nhà trù, trai đường trong nhiều chùa thời một vị tay cầm búa, tư thế ngồi nghỉ ngơi, tìm hiểu biết rằng vị ấy là Giám Trai sứ giả Bồ tát. Xin cho biết rõ thêm về nguồn gốc vị Bồ tát này.

ĐÁP:

Giám Trai sứ giả là thiên thần trông nom việc ăn uống cho chúng Tăng. Vì có công đức hộ pháp, giữ gìn chốn già lam nên được tôn xưng Bồ tát. Giám Trai sứ giả thường được thờ ở trai đường hoặc nhà trù trong các chùa viện ở Trung Hoa và Việt Nam . Tôn hiệu của Giám Trai được chư Tăng xưng niệm mỗi ngày trong lễ cúng Ngọ: Nam mô Giám Trai sứ giả Bồ tát. 

Hình tượng của Giám Trai rất đa dạng. Theo Phật Quang đại từ điển, tượng Giám Trai có mặt xanh, tóc đỏ; hình dạng thiên thần kì dị và uy dũng. Tại chùa Thiếu Lâm (Trung Quốc),tượng Giám Trai có mặt đen, tay cầm búa, mạnh mẽ, võ nghệ siêu phàm (Thích Đức Niệm, Pháp ngữ lục, Nguồn gốc võ Thiếu Lâm). Nhưng Giám Trai ở các chùa Việt thì có hình dáng bình dị gần gũi với con người. Giám Trai chùa Tây Phương (hà Tây) có dáng dấp của vị quan văn nho nhã, đội mỹ cánh chuồn, chân đi hài, ngồi trên bục (Chu Quang Trứ, Chùa Tây Phương).Còn Giám Trai ở Hội Linh cổ tự (Cần Thơ) thì dân dã như nông dân: Ngài ngồi tư thế nghỉ ngơi, một tay tì lên cán búa dựng trước ngực, ở trần, quần vận lưng, mặt xương, má lõm, đôi mắt sáng quắc (Phan Hữu Tường, Hội Linh cổ tự). Và đây cũng là hình tượng Giám Trai sứ giả Bồ tát phổ biến ở các chùa miền Nam . 

Sử liệu về Giám Trai sứ giả,hiện chúng tôi được biết có hai quan niệm. Thứ nhất, Giám Trai là hiện thân của La hán Tân Đầu Lô Phả La Đoạ (Pindola Bhàradvàja). Theo Thích thị yếu lãm (q.hạ) và Đạo An truyện thì việc thờ Thánh tăng Tân Đầu Lô trong trai đường bắt nguồn từ ngài Đạo An (312-385): “Đạo An pháp sự mộng thấy một nhà sư người Hồ (Ấn) tóc bạc mày dài,nói rằng: Cứ hàng ngày dọn cơm cho ta ăn, về sau sẽ có Luật Thập tụng. Đạo An biết ngay rằng đó là La hán Tân Đầu Lô bèn dựng bệ thờ trong thực đường, đặt thức ăn cúng đường. Về sau, các chùa lấy đó làm phép tắc”. Từ cơ sở này, truyện Hai con cọp tinh ở Hoành sơn (đời Đường) thuật: “Trong nhà trai thờ tượng cốt một vị Tăng, lông mày trắng rủ dài, hiệu Giám Trai sứ giả Tân Đầu Lô Phả La Đoạ Xà Tôn giả” (Minh Chiếu sưu tập, Truyện cổ Phật giáo, tập II). Quan niệm này ngoài Đạo An truyện, có thể ảnh hưởng từ danh hiệu đệ nhất ứng cúng và tư tưởng của bộ Pháp Trụ ký cho rằng La hán Tân Đầu Lô phụng hành ý chỉ Phật,ở lại trần gian ủng hộ, xiển dương Phật pháp.La hán “mày trắng” đã thị hiện ứng cúng trong lễ cúng dường của vua a Dục, hoá độ Lương Võ đế và xác chứng sự nghiệp phiên dịch kinh điển của Đạo An v.v… Tuy vậy, cứ Tăng Nhất A Hàm 1 và Tăng Chi Bộ I thì Tôn giả Tân Đầu Lô chỉ là vị Thánh đệ tử bậc nhất về hàng phục ngoại đạo, rống tiếng rống sư tử. 

Một quan niệm khác về Giám Trai sứ giả, theo kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, q.VI,mục IV- Nhĩ căn viên thông (đời Minh), dẫn tích rằng Ngài là thị hiện của thần Khẩn Na La Vương, một vì thần Gia Lam thủ hộ chùa Thiếu Lâm (thời Tam Quốc), có công đánh đuổi giặc cướp. Vị lão tăng ở Thiếu Lâm tự suốt ngày chỉ bổ củi, nấu cơm nhưng khi đối diện với giặc cướp thì công thủ phi phàm, bảo vệ bình yên ngôi Tam bảo rồi sau đó mai danh ẩn tích. Vì thế, chư Tăng chùa Thiếu Lâm tạc tượng ngài sắc mặt đen, tay cầm búa để thờ trong trai đường và nhà trù, xưng Giám Trai sứ giả đồng thời còn tôn xưng Khẩn Na La Vương Bồ tát. Thực ra, Khẩn Na La Vương là Ca thần hay Nghi thần, thần pháp nhạc của Đế Thích thuộc Bát bộ chúng, phát nguyện ủng hộ Phật pháo, giỏi về tấu pháp nhạc như Tứ đế, Thập nhị nhân duyên,Lục ba la mật… Trong Nghi thức chúc tán Giám Trai (Nghi lễ,Thích Hoàn Thông), có xưng niệm danh hiệu Nam mô Giám Trai sứ giả Đại Thánh Khẩn Na La Vương chi thần. Rõ ràng quan niệm về Giám Trai sứ giả Đại Thánh Khẩn Na La Vương chi thần trong Nghi thức chúc tán Giám Trai có nguồn gốc từ vị Giám Trai sứ giả chùa Thiếu Lâm, hiện thân của Khẩn Na La Vương Bồ tát, một trong bà mười hai thân của Bồ tát Quán Thế Âm. 

Trở lại vấn đề Giám Trai sứ giả Bồ tát với hình dáng ngồi ở trần, tay cầm búa, dáng vẻ thong dong tự tại hiện được tôn thờ khá phổ biến ở Nam Bộ cùng với tôn hiệu Giám Trai sứ giả Đại Thánh Khẩn Na La Vương chi thần, cho thấy vị Giám Trai “cầm búa, bổ củi, nấu cơm” ở các chùa miền Nam có xuất xứ từ “vị Giám Trai sứ giả mặt đen, tay cầm búa” của chùa Thiếu Lâm, Trung Quốc

CƯ SĨ VỚI PHẬT SỰ HOẰNG PHÁP

Tôi là một Phật tử rất tâm huyết với sự nghiệp hoằng pháp. Kính hỏi, hàng Phật tử có thể tham gia vào sự nghiệp hoằng pháp không, nếu được thì bằng những phương thức nào?


ĐÁP:

Hoằng pháp là đem giáo lý giải thoát, giác ngộ và các phương pháp tu tập nhằm chuyển hoá khổ đau truyền bá rộng rãi đến mọi người. Hoằng pháp là nhiệm vụ chung của toàn thể những người con Phật, cả xuất gia lẫn tại gia, trong đó người cư sĩ tuy không giữ vị trí chủ yếu như chư Tăng nhưng cũng có vai trò và nhiệm vụ rất quan trọng. 

Trước hết, xác định nhiệm vụ then chốt của người cư sĩ là hộ pháp, tức hỗ trợ cho chư Tăng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển Phật pháp. Trong trọng trách hộ pháp vô cùng to lớn và đa dạng ấy, tất yếu có lĩnh vực hoằng pháp. Tuy nhiên, do giới hạn về chuyên môn (giáo điển và kinh nghiệm nội chứng) cùng với sự ràng buộc về các phương diện gia đình, kinh tế… nên hầu hết hàng cư sĩ chỉ có thể tham gia hoằng pháp trong chừng mực, khả năng và điều kiện nhất định. 

Phương thức hoằng pháp đầu tiên mà bất cứ người cư sĩ nào cũng làm được, đó là thể hiện Phật chất trong cuộc sống của mình ở trong gia đình, ngoài xóm giềng, cơ quan và xã hội. Sự thể hiện những phẩm chất đạo đức của người con Phật như tam quy, ngộ giới, từ bi, bố thí, hoan hỷ và trí tuệ… trong cuộc sống là một bài pháp không lời nhưng cực kỳ sống động và có sức thuyết phục cao. Ở đây, Phật pháp được hoá thân qua thực tiễn đời sống của hàng Phật tử, thông qua đời sống của người cư sĩ để người khác có một phần nhận thức, đánh giá về Phật pháp. 

Mọt khi đã hàm dưỡng và thể hiện được Phật chất trong đời sống, dựa vào uy tín cá nhân, người cư sĩ có thể truyền đạt kinh nghiệm sống quý báu ấy cho mọi người xung quanh. Mỗi người cư sĩ phải tham gia giáo hoá các thành viên trong gia đình là cha mẹ, vợ chồng con cháu có niềm tin Tam bảo và sống theo Chanh pháp. Điều này tưởng chừng đơn giản nhưng thực sự không dễ dàng, nhất là trong bối cảnh khuynh hướng thực dụng, xem nhẹ đạo đức và lãng quên nguồn cội đang ngày một gia tăng trong giới trẻ hiện nay. Vì thế, sứ mạng hoằng pháp trong gia đình của người cư sĩ tức Phật hoá trong gia đình trở nên cấp thiết và có ý nghĩa rất quan trọng. 

Ngoài việc Phật hoá gia đình, mở rộng ra các mối quan hệ trong đời sống và công việc thường nhật, người cư sĩ có thể nỗ lực giáo hoá bà con, bè bạn và đồng nghiệp bằng chính sự am tường Phật pháp cùng với tư cách, uy tín của người Phật tử. Vì đây là môi trường xã hội, do đó người cư sĩ muốn hoằng pháp thành công phải thực sự có bản lĩnh và kinh nghiệm, nhất là sự kiện toàn về tri thức và đạo đức. Có khá nhiều người “biết” Phật, đến chua nhờ nhân duyên đầu tiên là tập học theo bạn bè hoặc qua những kinh sách, báo chí, băng giảng mà bạn bè giới thiệu. Chính lối sống lương thiện, minh triết đầy đủ chất liệu trí tuệ, từ bị cùng với nỗ lực giới thiệu kinh điển, sách báo Phật giáo, người cư sĩ có khả năng cảm hoá người khác tìm đến Phật pháp. 

Đối với đội ngũ cư sĩ tri thức thì sự nghiệp hoằng pháp của họ càng sâu rộng và đa dạng hơn, đặc biệt là phương diện nghệ thuật, văn hoá và giáo dục. Giới thiệu Phật pháp đến với mọi người thông qua nghệ thuật như hội hoạ, điêu khắc, âm nhạc là công lao to lớn của những nghệ sĩ Phật tử. Bên cạnh nghệ thuật, những công trình nghiên cứu văn hoá, lịch sử các sáng tác văn học Phật giáo của những Phật tử trí thức đã góp phần rất lớn trong công cuộc xiển dương Phật pháp. Trong lãnh vực giáo dục, có khá nhiều cư sĩ tham gia giảng dạy Phật học trong các khoá huấn luyện Phật tử, chủ trì những cuộc thảo luận Phật pháp tại những đạo tràng, đặc biệt có một số ít cư sĩ học giả rất uyên thâm Phật họ hiện đang giảng dạy cho Tăng Ni ở một số trường Phật học. Những đại biểu cư sĩ trí thức đã góp phần vào sự nghiệp giáo dục và hoằng pháp tại Việt Nam trong thời cận đại như Lê Đình Thám, Đoàn Trung Còn, Cao Hữu Đính, Trịnh Công Sơn v.v… 

Về kinh nghiệm tu chứng,một cư sĩ nếu thành công về phương diện này thức là một vinh hạnh cho Phật giáo nước nhà. Sự xuất hiện của các thiền sư cư sĩ như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ đã góp phần làm cho Phật giáo thời Trần hưng thịnh một thời. Hiện nay, có khá nhiều cư sĩ niệm Phật biết được ngày giờ và chủ động vãng sanh hoặc lưu xá lợi tuy không tham gia vào ngành hoằng pháp nhưng sự vãng của họ là một minh chứng hùng hồn về giác ngộ và giải thoát, xây dựng niềm tin Tam bảo cho rất nhiều người. 

Tóm lại, năng lực hoằng pháp của người cư sĩ rất phong phú và đa dạng, tuỳ vào khả năng và hoàn cảnh của mỗi người mà có sự đóng góp khác nhau. Nhưng quan trọng nhất vẫn là những bài thuyết pháp sinh động từ thực tiễn cuộc sống của người Phật tử.

NGƯỜI XUẤT GIA CÓ LỄ LẠY CHA MẸ KHÔNG?

HỎI:

Người xuất gia thọ giới nhà Phật khi cha me quá vãng có lễ lạy không? Có ăn đồ cúng không? Chúng tôi nghe người nói được nhưng có người bảo không nên chưa được rõ. Xin cho biết nguyên nhân và hoan hỷ giải thích?

ĐÁP:

Người xuất gia là bậc đã phát nguyên cát ái từ thân, xả ly những luyến ái gia đình thân tộc, tiếp nhận Thánh giới, tu tập Thánh đạo, cầu giải thoát và nguyện chúng sanh. Trong ba ý nghĩa cao quý của xuất gia (xuất thế tục gia, xuất phiền não gia và xuất tam giới gia) thì xuất thế tục gia,thoát ly khỏi căn nhà thế tục và các mối quan hệ tình cảm gia đình, dòng tộc là bước đầu tiên. Đây là bước ngoặt quan trọng làm cơ sở cho đời sống phạm hạnh, nỗ lực đoạn trừ tham ái đồng thời là nền tảng cho Thánh quả.

Cát ái ly gia đối với người xuất gia phải được thực thi triệt để, trọn vẹn vì tham ái là điều chướng ngại có tính chất thâm căn, cội nguồn của sanh tử. Vì thể, trước lúc phát nguyện tiếp nhận Thánh giới (10 giới Sa di hoặc Sa di ni), người xuất gia hướng về phương Bắc, chí thành lễ tạ tứ ân (ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân thí chủ), sau đó hướng về Tam bảo thọ nhận giới pháp xuất thế, quy mạng trọn đời. Từ đây trở về sau, người xuất gia sống đời xuất thế, nỗ lực tu tập để thành tựu giải thoát làm đạo sư của trời người đồng thời không còn liên hệ và bị ràng buộc bởi quan hệ thế thường.

Đối với cha mẹ, công sanh thành dưỡng dục của song thân, người xuất gia xem trọng như núi cao, biển cả. Tuy nhiên, sự đền đáp công ơn hiếu dưỡng trời biển đó, người xuất gia không thực thi như người thế tục mà thực hiện bằng cách dùng đạo hạnh để cảm hoá cha mẹ hướng thiện, quy kính Tam bảo đồng thời phát huy đạo lực để tiếp dẫn, cầu nguyện cho cha mẹ siêu thoát. Vì thế, khi dự phần vào Tăng bảo, bước lên địa vị xuất thế gian, người xuất gia dẫu vẫn kính trọng và báo ơn cha me nhưng không lễ lạy nữa.

Mặt khác, tuy có con là người xuất gia nhưng trong Chánh pháp thì cha mẹ vẫn thuộc hàng đệ tử tại gia, phải kính lễ Tam bảo, nương theo Tam bảo để tu học. Hàng Phật tử tại gia thường xuyên kính lễ Tam bảo mỗi ngày để vun bồi phước đức của mình. Do vậy, bậc cha mẹ có con xuất gia thì phải xem con mình là một vị Tăng, hành xử phải theo Pháp như chư vị Tăng khác. Một vị Tăng, ngoài kính lễ Tam bảo ra không lễ lạy bất cứ tôn vị nào khác, kể cả cha mẹ. Ngay cả việc thi lễ với những bậc quân vương, quốc chủ là pháp quy bắt buộc tuân thủ nghiêm ngặt của xã hội phong kiến vẫn dành cho chư Tăng một ngoại lệ, không lễ bái (Tuệ Viễn, Bất bái quân vương giả luận).

Người xuất gia vẫn tận hiếu với cha mẹ nhưng không lễ bái vì tuân thủ pháp tắc của Tăng bảo đồng thời việc lễ bái ấy sẽ tổn giảm phước đức của chính cha mẹ mình. Một vài vị xuất gia quan niệm rằng dù có làm gì trong xã hội đi nữa mình cũng vẫn là con của cha mẹ niên thực hành lễ bái. Quan niệm này chỉ đúng với mọi người trong tương quan đời thường, thế tục nhưng đối với Chánh pháp thì thiển cận và sai lầm. Bởi khi thọ nhận sự kính lễ của một người mà giới đức và phạm hạnh to lớn hơn mình rất nhiều lần, tất nhiên phước đức của mình bị tổn giảm, nhất là khi thọ nhận kính lễ của vị Tăng thì phước đức của người tại gia càng bị tổn giảm hơn. Do vậy, để tôn trọng Chánh pháp và để tránh sự tổn phước cho cha mẹ, người xuất gia không lễ bái, dù song thân hiện còn hay đã khuất.

Đối với các phẩm vật đã dâng cúng quỷ thần và hương linh, theo pháp Phật, người xuất gia không thọ dụng. Kinh Tương Ứng Bộ I, khi Bà la môn Sundarika hỏi Phật nên cho ai những vật cúng còn lại này, Phật dạy: “Này Bà la môn, hãy quăng vật cúng còn lại này tại chỗ không có cỏ xanh hay nhận chìm xuống nước nơi không có loài hữu tình”. Vật phẩm đã dâng cúng quỷ thần, hương linh không phải là thực phẩm thanh tịnh theo thường pháp dành cho người xuất gia. Hàng Sa môn, Tỷ kheo chỉ được phép dùng các phẩm vật đã dâng cúng Tam bảo.

Ngoài ra, việc không ăn đồ cúng rất phù hợp với nguyên tắc vệ sinh, an toàn thực phẩm. Khi các thực phẩm đem ra cúng tế sẽ bị nắng mưa, nguội lạnh cùng với bụi bặm, tàn nhang và ruồi nhặng, nếu ăn vào sẽ có hại cho sức khoẻ. Mặt khác, chư Tăng là những bậc giới đức, phạm hạnh cụ túc đã và đang hướng về địa vị Ứng cúng, La hán nên các vật phẩm mà quỷ thần và hương linh đã hưởng xong nếu đem cúng dường chư Tăng thì chính hương linh và quỷ thần ấy tổn phước vì thất kính. Bản thân chư Tăng cũng tự ý thức điều này, chỉ thọ dụng những thực phẩm cúng dường đúng pháp, không ăn các thực phẩm phi pháp “vì lợi ích, vì an lạc cho số đông, chư Thiên và các loài hữu tình”.

NGƯỜI CHẾT SỐNG LẠI

HỎI:

Nhân đọc báo An Ninh Thế Giới (ANTG), số 160, ra ngày 12-8-2004, có đăng bài “Chuyện có thật không chỉ ở một miền quê”, cùng với nhiều điều được nghe trong đời thì hiện tượng người chết sống lại là chuyện có thật. Để tránh những cái chết oan uổng và đau lòng của những trường hợp người chết sống lại nhưng bị chôn vùi trong huyệt mộ, theo Phật giáo thì người chết sau bao lâu mới được tẩm liệm và chôn cất?

ĐÁP:

Người chết sống lại là chuyện hy hữu song có thật. Không phải bây giờ mà từ rất xa xưa con người đã có được kinh nghiệm này. Chuyện người chết hồi dương (sống lại), rồi sức khoe mạnh thêm một thời gian dài nữa được truyền tụng phổ biến trong dân gian và hiện nay. Vì vậy, khi một người được xác định đã chết (không còn hơi thở, tim ngừng đập và lạnh buốt toàn thân) nhưng với kinh nghiệm được cha ông truyền lại, phải chờ thêm một thời gian (ít nhất là nửa ngày cho đến một ngày), sau đó mới tẩm liệm và an táng.

Bởi vậy khi cái chết mới bắt đầu, thực sự đó chỉ là hiện tượng chết lâm sàng, nghĩa là tim ngừng đập, tắt hơi thở nhưng não bộ chưa hoàn toàn chết hẳn, vẫn còn hoạt động tuy rất yếu ớt. Trong quá trình hoạt động yếu ớt đó, não bộ vẫn còn một cơ may chịu một tác động nào đó làm chấn hưng, lập tức kích thích các bộ phận trong cơ thể hoạt động trở lại. Đối với những người có đời sống lành mạnh, sức khoẻ tốt, không bệnh tật, chết rất nhẹ nhàng, chỉ hơi mệt rồi “đi”thì mới có khả năng xảy ra hiện tượng hy hữu này. Hiện tượng người chết sống lại với những kiến thức và kinh nghiệm y khoa hiện nay về chết lâm sàng là bình thường, hiếm có nhưng có thể giải thích rõ ràng bằng khoa học thực nghiệm. Do vậy, khi báo ANTG, số 150, đăng bài “Đặt chuông trong quan tài để cứu người chết sống lại” cũng là một giải pháp cứu hộ có tính khả thi, thực tiễn và không hề hoang tưởng.

Theo quan điểm của Phật giáo, khi một người được xác định đã chết thì phải đợi ít nhất từ 10 giờ đến 12 giờ mới tiến hành tẩn liệm. Một phần cũng vì lý do đợi người chết lâm sàng thực sự chết hẳn như đã nói và mục đích chính là để quá trình thần thức thoát ra khỏi xác thân hoàn toàn. Điều khác biệt so với dân gian là trong quá trình chờ đợi thần thức thoát ra khỏi thân xác, gia quyến chỉ thành tâm trợ duyên niệm Phật, hạn chế đến thấp nhất việc xúc phạm, xê dịch, tắm rửa hay nắn bóp tử thi. Vì nếu làm như thế thì người chết vô cùng đau đớn lại càng thêm đau đớn, phát khởi sân tâm, phẫn nộ, ảnh hưởng xấu đến cặn tử nghiệp và xu hướng tái sanh.

GIEN DI TRUYỀN VÀ NHÂN QUẢ

HỎI:

Theo khoa học, tướng mạo đẹp, xấu v.v… của một con người là do ảnh hưởng của gien di truyền. Trong khi đó, quan điểm của Phật giáo thì cho rằng con người hiện tại là kết quả của luật nhân quả. Xin cho biết những ảnh hưởng nhân quả lên tướng trạng và giải thích rõ hơn về quan điểm này.

ĐÁP:

Thuyết nhân quả là một trong những giáo lý cơ bản của Phật giáo. Phạm trù nhân quả rất rộng lớn, đa dạng, tương quan mật thiết và tác động lẫn nhau trong thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Vì thế, để hiểu một cách sâu sắc và toàn triệt về nhân quả, nhất là quả dị thục thì ngoài việc nghiên cứu về phương diện lý thuyết cần phải thể nghiệm nhân quả bằng tuệ giác, kinh nghiệm nội tại thông qua thiền định như các bậc Thanh, bởi quả dị thục của nghiệp là một trong bốn phạm trù mà con người không thể tư duy được (Kinh Tăng Chi Bộ I, phẩm Bổn pháp).

Nhân quả nói đầy đủ là nhân-duyên-quả. Nhân là nguyên nhân chính, duyên là những nguyên nhân phụ, quả là kết quả. Tiến trình từ nhân đến quả rất phức tạp: nhân quá khứ trổ quả hiện tại; nhân quá khứ trổ quả vị lai. Trong đó, duyên (nhân phụ) đóng vai trò rất quan trọng, chi phối mãnh liệt đến quả, có khả năng làm lệch hướng kết quả so với nhân ban đầu. Do vậy, nhận thức nhân quả phải dựa trên nền tảng, tương quan duyên khởi, mỗi hiện tượng vừa là kết quả vừa là nguyên nhân, luôn chi phối lẫn nhau vô cùng tận.
Con người, theo Phật giáo là một hợp thể của vật chất và tinh thần (năm uẩn). Nó là kết quả của quá trình vận động nhân quả-nghiệp báo. Quá trình vẫn động này không đơn thuần là nhân nào quả nấy mà cả một chuỗi nhân-duyên-quả tương tác qua lại, chi phối và ảnh hưởng lẫn nhau trùng trùng điệp điệp để hình thành chúng sanh. Hai phương diện thân và tâm (hình dáng và tính cách nói riêng) của một cá nhân là sự phản ánh trung thực nhân quả-nghiệp báo của người ấy đồng thời nhân quả liên tục ảnh hưởng và chi phối trực tiếp đến thân tâm, từng phút giây trong hiện tại.

Đành rằng trong kinh điển Phật giáo có đề cập đến những loại nhân quả có tính tương ứng nhất định như: “Quá đam mê sắc dục đời sau sẽ làm chim sẻ, bồ câu; quá si mê đời sau sẽ làm lợn, dê, hay trêu ghẹo người đời sau làm khỉ, vượn…” (Kinh Địa Tạng) hoặc “Người nào nhiều nóng giận, phẫn nộ đời sau chịu xấu xí, người nào không nóng giận, phẫn nộ đời sau được đẹp đẽ…” (Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt, Trung Bộ III). Vì nghiệp nhân của mỗi người đều có thiện ác lẫn lộn nên có quả báo thiện ác, tốt xấu xen lẫn như: Có người đẹp mà nghèo, có người xấu lại thông minh; có người giàu lại nhiều bệnh; có giai đoạn thì cực khổ rồi giai đoạn khác lại hanh thông v.v… Chỉ có một số ít người tốt đẹp hoặc xấu ác hoàn toàn.

Tuy nhiên, tất cả những gì xảy đến cho con người không phải hoàn toàn dựa vào nghiệp nhân quá khứ mà còn phụ thuộc rất nhiều vào nghiệp nhân trong hiện tại (nghiệp mới). Bởi nghiệp mới có khả năng chuyển hoá những nghiệp cũ trong quá khứ, thậm chí có thể chấm dứt dòng sanh tử. Mặt khác, một nghiệp nhân chưa hẳn đưa đến quả dị thục do thiếu duyên chẳng hạn. Vì thế, “không thể nào lập được một bản liệt kê đối chiếu giữa các loại nhân và quả bởi vì nhân và quả đều là duyên sinh mang ý nghĩa bất định như các pháp hữu vi khác” (Thích Chơn Thiện, Phật học khái luận, Nhân quả, tr.247)

Do đó, vấn đề tướng mạo đẹp xấu của con người, theo Phật giáo là kết quả của những nghiệp nhân trong quá khứ và hiện tại. Tuy vậy, không nên nhận thức đơn thuần theo cách nhân nào quả nấy một cách cố định mà cần nhận thức nhân quả trong tương quan trùng trùng duyên khởi đồng thời phải thấy được vài tro tích cực của nghiệp mới trong nỗ lực chuyển hoá nghiệp cũ.

Về phương diện khoa học, gien di truyền (AND) quyết định hình dáng đẹp xấu của con người là kết quả nghiên cứu khoa học, được chứng minh cụ thể và điều này không có gì mâu thuẫn với thuyết nhân quả. Bởi nếu xem bộ gien là nhân thì những gì được bộ gien thiết lập chính là quả. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào nguyên lý vật chất duy nhất là gien di truyền để quyết định tướng tạng đẹp xấu của con người trong suốt đời thì chưa đủ

Đơn cử có gia đình người cha da đen, mẹ da trắng sinh ra ba người con, một da trắng đẹp đã và hai da đen xấu xí. Ba người con này có chung một bộ gien di truyền nhưng do tính chất trội và lặn mà có người đẹp người xấu.vậy ai hoặc cái gì chi phối việc “trội,lặn” của gien? Do trời hay số phận? Phật giáo khẳng định do nhân quả-nghiệp báo của chính người ấy. Ví dụ khác, hai người sanh đôi giống hệt (trường hợp một nhân tách làm hai) nhưng vì hoàn cảnh nên từ nhỏ mỗi người sống một nơi. Hai mươi năm sau gặp lại, người A cao to, khoẻ mạnh, thông minh và người B nhỏ thấp,gầy yếu,chậm lụt. Người B vẫn mang trong mình bộ gien tốt nhưng do môi trường sống quá thiếu thốn nên không phát triển đúng mức. Vậy thì bộ gien tốt vẫn chưa quyết định hoàn toàn đến tướng trạng con người! Trường hợp khác, một người có gien đẹp đẽ, thông minh lớn lên được như ý nhưng không may bị tai nạn, trở thành tật nguyền, tàn phế. Trong khi có người sinh ra bị sứt môi nhưng lớn lên đủ duyên lành phẫu thuật trở lại bình thường. Vậy thì trong thời điểm hiện tại ai xấu, ai hạnh phúc, ai khổ đau?

Mặt khác, con người ngoài thân thể vật chất còn có tinh thần. Gien di truyền không quy định được tính cách, tâm lý vốn sanh diệt trong từng sát na. Do vậy, gien di truyền chỉ là nhân quả của một giai đoạn, mang tính thứ yếu, là một duyên trong việc quyết định tướng trạng hay thân phận của đời người. Chính nhân quả-nghiệp báo của cá nhân mới quyết định trọn vẹn đến các phương diện của đời sống.

BẾN NƯỚC NÀO TRONG?

HỎI:

Tôi hiện có chồng và bốn đứa con. Công việc của tôi là giao hàng từ các chợ đầu mối đến những tỉnh xa. Cuộc sống hiện tại nói chung là tạm ổn. Tuy nhiên, sự cố bắt đầu xảy ra vài năm nay. Đó là khi tôi đầu tắt mặt tối ở ngoài đường để kiếm tiền lo cho gia đình, con cái thì chồng tôi, anh ấy không chịu làm lụng gì cả, chỉ biết dựa dẫm vào tôi. Tôi đã nhiều lần năn nỉ, khuyên lơn, hờn dỗi… mong anh ấy tìm một việc làm để cùng chung lo gia đình nhưng anh ấy vẫn không có một dấu hiệu gì chứng tỏ mình là “đàn ông” cả. Từ đó, vì quá mệt nên con tim tôi cứ nguội lạnh dần và dường như tôi cảm thấy ngày càng xa lạ với anh ấy. Hiện giờ, tôi muốn dứt khoát chia tay nhưng sợ tiếng đời dị nghị, vì gia đình tôi vốn có tiếng là “gia giáo” nghiêm minh; còn nếu như cứ duy trì tình hình này mãi thì e rằng một khi nào đó, khi tôi không đủ sức lo cho gia đình thì những đứa con sẽ về đâu? Rất mong một sự chia sẻ chân tình!

ĐÁP:

Không phải không có lý do khi đàn ông đã đưa ra hình ảnh “mười hai bến nước” để ví von cho thân phận của con gái trước lúc lấy chồng. cho nên, ngoài nỗ lực tìm hiểu kỹ càng đấng phu quân tương lai trước khi trao thân gởi phận thì hạnh phúc của một người con gái nói riêng và gia đình nói chung còn phụ thuộc vào nhiều yếu tô mà Phật giáo gọi là nhân duyên. Thực tình, hoàn cảnh của bạn khá trớ trêu và bất hạnh, thân gái dặm trường, nhọc nhằn lặn lội ngược xuôi mà lại không được chồng chung sức và đó cũng là một trong những điều đem đến cho bạn những mệt mỏi, thất vọng đến đắng cay!

Nơi đây , chúng tôi không thể và hoàn toàn không dám đưa ra một lời khuyên bảo mà bạn chỉ nên xem đây như là một sự chia sẻ trong nhịp thổn thức của tính người. Có thể, bạn đã nhiều lần khuyên bảo anh ấy, nhắc nhở anh ấy, nhưng quả thực bạn đã “biết cách” khuyên anh ấy hay chưa? Một lời khuyên không phải chỗ, phải thời, đôi khi không đem đến những kết quả tích cực mà có thể ngược lại. Sống là cả một nghệ thuật, một nghệ thuật hoà âm mà vợ và chồng là sự kết hợp hài hoà của những cung thương đồng điệu. 

Việc trước mắt, bạn cần quan tâm hơn, tìm hiểu sâu hơn lý do tại sao anh ấy không siêng năng tì sinh kế, tại sao anh ấy lại phó thác gia đình lên đôi vai vốn đã mỏi mòn của bạn? Phải chăng anh ấy đã từng nhuốm phải nhiều thất bại trên đường đời? Phải chăng “thời” của anh ấy chưa đến? Phải chăng sức khoẻ, bệnh tật… đã và đang gặm nhấm, làm cho anh ấy mất đi niềm mê say trong sinh kế gia đình? Bạn phải tìm hiểu thật kỹ lưỡng, phải rà soát lại, cùng anh ấy sẻ chia tất cả những trăn trơ ưu tư. Trong trường hợp, nếu vì một lý do nào đó khiến anh ta không đủ khả năng tìm sinh kế mà chu toàn được “hậu phương”, chăm nom gia đình và con cái để bạn an tâm ngược xuôi nơi “tiền tuyến”, công bằng mà xét thì vẫn bình đẳng trong phân công lao động, chỉ hơi ngược một chút nhưng vẫn hợp lý. Chúng tôi nghĩ rằng, nếu được như vậy thì anh ấy vẫn chung sức cùng bạn trong việc lo cho gia đình. Nhận thức được như thế ắt hẳn bạn sẽ thở phào nhẹ nhõm, vì bên cạnh những nhọc nhằn của bạn luôn có anh ấy sẽ chia và tiếng cười rộn rã trở về trong mái nhà chung xưa nay vốn hiu quạnh.

Tuy vậy, với tất cả những nỗ lực cứu vãn mà bạn đã và đang cố gắng, nhưng tình hình vẫn không được cải thiện chút nào vì bản chất của anh ta là lười biếng, vô trách nhiệm thậm chí là ăn bám thì giải pháp chia tay là lối thoát mà bạn có thể áp dụng. Bạn cần phải bình tĩnh để nhận thấy, miệng tiếng thế gian tuy có phần khe khắt, nhưng nếu một khi ai đó hiểu được tình cảnh mà bạn đã trải qua, tất nhiên sự chia sẻ, đồng tình của bao nhiêu người sẽ luôn dành cho bạn. Theo như tâm sư, gia đình bạn rất ư “gia giáo”, chung tôi nghĩ rằng một khi hiểu được sự vất vả của bạn, nhận ra những nỗi khổ mà bạn xưa nay cắn răng che giấu không kể cùng mẹ cha, mà ở đây, bậc cha mẹ nào cũng muốn cho con cái của mình hạnh phúc, do vậy sẽ không hề có sự cản ngăn trước lối thoát duy nhất mà bạn là người quyết định. Phải hiệu, một khi con tim đã nguội lạnh, một khi sự mệt mỏi chán chường đã ngập tràn trong tâm trí thì dù có níu kéo trên mặt hình thức, sẽ không ngăn cản được một sự tan vỡ nay mai.

Thiết nghĩ, cuộc sống của bạn đã chịu quá nhiều thiệt thòi, tủi nhục; việc chấp nhận đớn đau một lần để giải phẫu còn hơn là chăm sóc một vết thương không bao giờ lành miệng. Vài lời chia sẻ, chúc bạn luôn vững tin trong quyết định của mình.

HOẰNG QUẢNG BỒ TÁT LÀ AI?

HỎI:

Sau khi tuần báo Giác ngộ số 236 trả lời cho độc giả ở chuyên mục Phật học thường thức về Bồ tát “Hoằng Quảng”, chúng tôi đã nhận được thư phản hồi. Xét thấy, đây là những nghi vấn cần phải được mình giải rõ ràng,nên chúng tôi mở cuộc trao đổi nhằm làm sáng tỏ vấn đề nêu trên.

ĐÁP:

Trên tinh thần cầu thị và học hỏi, chúng tôi hoàn toàn tán thán sự quan tâm của bạn trước những nghi vấn và cách luận giải của chúng tôi. Hơn một lần đã trình bày, biển học vô bờ, những điều chúng ta chưa biết như lá trong rừng. Dựa vào tinh thần đó, chúng tôi sẵn sàng tiếp thu mọi ý kiến và cũng cần nói thêm rằng, sẽ thẳng thắn trao đổi ngõ hầu tìm ra chân lý của sự việc.

Trước hết, trong lá thư thứ nhất gửi cho chúng tôi, bạn cho rằng “Hoằng Quản” là tên riêng của một vị Bồ tát. Cơ sở căn cứ lúc đó là một đoạn văn mà bạn đã dịch trong Tục tạng: Tục tạng kinh, tập 44, N0 744, Tứ phần luật danh nghĩa tiêu thích, quyển 7, trang 457, khung C thì nói: “…Sau khi Như Lai Biết Bàn những điều mà Tỳ khoe A Nan chưa được nghe, Bồ tát Hoằng Quảng sẽ nói lại cho A nan nghe…”. Thực ra, đoạn kinh được trích dẫn trong Tứ phần luật danh nghĩa tiêu thích nguyên tác nằm trong Đại Bát Niết Bàn kinh (Nam Bản) thuộc Đại Chính tân tu Đại tạng kinh (ĐCTTĐTK). Trong đoạn kính này, chúng tôi cho rằng “Hoằng Quảng” không phải là tên riêng của một vị Bồ tát và đó cũng là quan điểm hiện nay của chúng tôi!

Từ sự khẳng định của chúng tôi ở tuần báo Giác Ngộ số 236 khi cho rằng hoằng quảng là thuộc tính chung của một vị Bồ tát nào.Khi đọc bài trả lời đó, “thì tôi đã nhói tim, quy ngã trước sự nhận định sai lầm của Tổ Công tác bạn đọc” (nguyên văn lời của bạn trong lá thư trao đổi). Ở đây, chúng ta tạm gác qua một bên những gai góc của ngôn từ.Điều chúng ta cần bàn và đó cũng là lời mong mỏi mà bạn đã nêu trong thư: Bồ tát “Hoằng Quảng là ai”.

Về phương diện là một danh từ riêng, theo chúng tôi “Hoằng Pháp” có thể là tên của một người.Điều này hoàn toàn có cơ sở vì việc trùng tên, họ của hàng tỷ người đã sống cũng như đã chết là điều thường gặp xưa nay! Căn cứ vào lá thứ hai của bạn: “… Muốn biết Hoằng Quảng Bồ tát là ai, xin mời quý vị xem trang 848, khung B và C, quyển 36, kinh Đại Bát Niết Bàn (tức là Nam bản Niết bàn) mà quý vị đã dẫn. Hãy đọc cho thật kỹ!”. Theo sự chỉ dẫn của bạn, chúng tôi đọc “kỹ” lại và trớ trêu thay, khi nhận thấy Hoằng Quảng ở đây chỉ là tên riêng của một vị Bà la môn! Điều đáng chú ý nhất trong đoạn kinh này, Đức Phật chưa từng gọi vị ấy là Bồ tát mà thường gọi là Bà la môn hoặc Đại Bà la môn. Do đó, không thể chỉ dựa vào một sơ sở này mà “diễn dịch” cho rằng Bà la môn Hoằng Quảng này chính là Bồ tát “Hoằng Quảng” trong đoạn kinh sau. Nếu tự ý quy kết thì sẽ phạm một lỗi rất cơ bãn trong logic: lý do chưa đầy đủ!

Nếu như đây là một vị Bồ tát có đủ năng lực “sẽ nói lại cho A Nan nghe” những kinh điển mà Phật đã dạy thì tên của vị Bồ tát ấy sẽ nằm trong danh mục các vị Đại Bồ tát hoặc đại đệ tử Phật và thường xuất hiện trong các kinh điển. Thế nhưng ở đây, có một điều đặc biệt kỳ thú, trong toàn bộ kinh Đại Bát Niết Bàn, cả Nam bản (36 quyển) và Bắc bản (40 quyển) thì tên gọi Bà la môn Hoằng Quảng chỉ xuất hiện trong một phẩm: phẩm Kiều Trần Như,với tần suất xuất hiện 4 lần và một lần “Hoằng Quảng” đi kèm với một danh từ: Hoằng Quảng Bồ tát. Trong khi đó, các vị Đại Bồ tát như Văn Thù, Quan Âm, Phổ Hiền hoặc Đại đệ tử như Xá Lợi Phất, Ca Diếp, A Nan thì chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp trong bất cứ một phẩm kinh điển nào.

Như vậy, xét về mặt danh từ riêng, Hoằng Quảng là một con người cụ thể trong bối cảnh cụ thể của đoạn kinh vừa nêu. Thế nhưng, tên riêng này không thể gượng ép vào những ngữ cảnh khác. Đặc biệt, không thể cho đó là tên riêng của một Bồ tát ở trong đoạn kinh mà bạn đã dịch.

Ở đây, vì tính nghiêm túc nên chúng tôi cần phải dẫn lại nguyên văn đoạn dịch của bạn: “… Sau khi Như Lai Niết bàn, những điều mà Tỳ kheo A Nan chưa được nghe, Bồ tát Hoằng Quảng sẽ nói lại cho A Nan nghe…!”. Chúng tôi xin khẳng định một lần nữa, ông Bà la mon tên gọi Hoằng Quảng và “Hoằng Quảng Bồ tát” (theo nguyên bản Hán văn) không phải là một người, bởi một bên là danh từ riêng và một bên là tính từ!? Vì sao?

Thứ nhất, nếu nhu đó là tên riêng của một vị Bồ tát có đầy đủ năng lực thay Phật thuyết kinh cho A Nan nghe thì trong lịch sử Phật giáo phải đề cập đến tên tuổi của vị này, hoặc ít ra trong danh mục các Đại Bồ tát, Đại đệ tử của Phật, danh tánh của vị ấy phải đôi lần xuất hiện. Nhưng với những khảo sát của chúng tôi qua các bộ Lịch sử Phật giáo hay các bộ Phật học từ điển như của Đinh Phúc Bảo, Phật Quang đại từ điển… thì tuyệt nhiên không có tên một vị Bồ tát nào với danh xưng là Hoằng Quảng.

Thứ hai, căn cứ vào bộ “Đại Bát Niết Bàn kinh sở, quyển 33”, (ĐCTTD9TK, tập 38 trang 228 ) thì Hoằng Quảng Bồ tát được định nghĩa là: (là những bậc) có thể làm cho giáo pháp lưu bố sâu rộng, (công việc đó) không thể do một người. Có thể làm cho giáo pháp lưu bố thông suốt, giáo hoa đem ích lợi, tức là hoằng quảng (vị năng hoằng kinh ngôn, hoằng quảng giả, phu cứ nhất nhân. Đản năng hoằng thông, giáo hoá lợi ích, tức thị hoằng quản). Trong đoạn kinh này cho thấy, sứ mạng đem giáo pháp lưu bố rộng rãi là một sự nghiệp rất lớn, là sự hợp lực của nhiều người và theo kinh văn khẳng định là: không thể chỉ căn cứ vào một ai đó.

Thứ ba, trong đoạn kế tiếp của bộ kinh sở này, hoằng quảng Bồ tát được tiếp tục giải thích như sau: như Văn Thù Sư Lợi, ngài Di Lặc cùng các vị Bồ tát khác, vì ngài A Nan mà nói giáo pháp Đại thừa. Như vậy, Văn Thù, Di Lặc… là những bậc Hoằng quảng Bồ tát (nhược Văn Thù Sư Lợi dữ Di Lặc đẳng, đối A Nan xuất đại thừ tạng. Thị tắc Văn Thù, Di Lặc tức thị hoằng quảng Bồ tát). Đây có thể coi là một sự khẳng định rất quan trọng, vì “hoằng quảng” là tính từ chỉ cho công hạnh hiểu rõ và lưu bố Chánh pháp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Nếu như ai có khả năng làm được điều đó thì có xứng đáng được gắn thêm một mỹ từ “hoằng quảng” sau tôn hiệu của mình.

Thứ tư, theo Đại Bát Niết Bàn kinh tập giải, quyển thứ 71 (ĐCTTĐTK, tập 37, tr.608C), có rất nhiều vị Phạm chí và Bà la môn đến tham vấn và cầu học vào lúc Phật sắp Niết bàn. Theo kinh văn, vị Phạm chí thứ sáu tên là Tịnh, vị Phạm chí thứ bảy tên là Độc Tử, vị Phạm chí thứ tám tên là Nạp Y và thứ chín là Ba la môn Hoằng Quảng (Phạm chí danh tịnh đệ lục, độc tử phạm chí đệ thất, nạp y phạm chí đệ bát, hoằng quảng bà la môn đệ cửu).

Thứ năm, theo Tứ Phần Luật Hành Sự Sao Tư Trì Ký, quyển 15 (ĐCTTĐTK, tập 40 tr.396C), vào ngày rằm tháng Hai, thời điểm Phật Niết bàn, có mười vị tu sĩ ngoại đạo, thứ nhất là Xà Đề Thủ Na, thứ hai là Bà Tư Tra, ba là Tiên Ni, thứ tư có họ là Ca Diếp, thứ năm tên là Phù Na, thứ sáu là Phạm chí có tên là Tịnh, thứ bảy là Độc Từ, thứ tám là Phạm Chí Nạp Y, thứ chín là Bà la môn Hoằng Quảng và thứ mười là Tu Bạt Đà La. Đó là mười vị cùng các bậc thượng túc của ngoại đạo, nghe Phật Niết bàn đến xin quy y và đã được Phật độ (nhị nguyệt thập ngũ lâm niết bàn thời, thập tiên giả, nhất Xà Đề Thù Na, nhị Bà Tư Tra, tam Tiên Ni, tứ Ca Diếp thị, ngũ Phú Na, lục Tịnh Phạm chí, thất Độc Tử, bát Nạp Y Phạm chí, cửu Hoằng Quảng Bà la môn, thập Tu Bạt Đạt La. Thử thập tịnh ngoại đạo thượng thủ, văn Phật niết bàn quy y đắc độ). Có thể thấy, với nhân thân là một bà la môn, nghe tin Phật Niết bàn nên đến thọ giáo và sau đó đã được Phật độ. Điều này chứng tỏ, dù có nỗ lực bao nhiêu đi chăng nữa thì vị Ba la môn đó cũng không đủ thời gian nghe hết tất cả những bộ kinh mà Phật đã thuyết, để sau này tuyên thuyết lại cho ngài A Nan nghe!

Từ những điều trinh bày, chúng tôi xin khẳng định: torng kinh Đại Bát Niết Bàn có một người Bà la môn học thọ với Phật và có tên là Hoằng Quảng. Đây là một người đệ tử bình thường như bao người đệ tử khác của Đức Phật. Đoạn kinh mà bạn đã dịch (một đoạn trong Đại Bát Niết Bàn kinh), thì chắc chắn “hoằng quảng” không phải là tên riêng của một vị Bồ tát. Đối với nghi vấn: Bồ tát Hoằng Quảng là ai? Câu trả lời hiện nay của chúng tôi: đó là các vị Bồ tát có năng lực sâu rộng trong việc ghi nhận và lưu bố giáo pháp của Đức Thế Tôn.

Thiết nghĩ, trong Hán ngữ,nhất là Hán ngữ cổ, do không có sự phân biệt viết hoa hay không viết hoa đối với danh từ riêng; do đó, đã tạo ra không ít khó khăn cho những nhà nghiên cứu,dịch thuật. Với những người làm công tác phiên dịch chuyên môn, ngoài khả năng ngoại ngữ, cần phải có một lượng kiến thức phổ quát mới có thể chuyển tải hết thực nghĩa của văn bản. Với tất cả những thao thức hiện có, chúng tôi mong rằng bạn đọc gần xa sẽ cùng chia sẻ với chúng tôi nếu như có những khám phá, phát hiện mới về vấn đề này.

A NAN VÀ HOẰNG QUẢNG

HỎI:

Báo Giác Ngộ số 231, có người hỏi: “Vậy những bộ kinh mà Phật thuyết trước khi ngài A Nan xuất gia thì làm sao mà ngài nghe được, để trùng tuyên lại trong các cuộc kiết tập kinh điển?”. Câu hỏi đã được giải đáp một cách khá đầy đủ. Nhưng theo Tục tạng kinh, tập 44, N0 744, Tứ phần luật danh nghĩa tiêu thích, quyển 7, trang 457, khung C thì nói: “… Sau khi Như Lai Niết bàn, những điều mà Tỳ khoe A Nan chưa được nghe, Bồ tát Hoằng Quảng sẽ nói lại cho A Nan nghe…” Tôi xin được biết ý kiến của quý Báo.

ĐÁP:

Chúng tôi thật sự biết ơn những ý kiến đóng góp của bạn. Con đường hoàn thiện tri thức quả lắm gian nan vì không ai có thể tự cho mình hiểu biết tất cả.

Trước hết, trong câu trả lời ở tuần báo Giác Ngộ số 231, chúng tôi đã y cứ vào hai cơ sở. Thứ nhất là bộ Đại Chính tân tu Đại tạng kinh; thứ hai là bộ Đại tạng kinh Việt Nam do Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành năm 1997. Thiết nghĩ, đây là hai cơ sở nghiên cứu về kinh điển Phật giáo có tính khoa học và pháp lý cao. Với suy nghĩ đó và khuôn khổ trả lời có hạn nên chúng tôi tạm dừng với những tài liệu đã nêu. Tiện đây, bạn đã đưa ra một phát hiện mới cùng đề cập vấn đề này dựa vào bộ Tục tạng kinh. Đây quả thật là một sự khích lệ, quan tâm của bạn đối với chuyên mục và chúng tôi xin chân thành ghi nhận.

Ở đây, có một điều khá vất vả cho chúng tôi khi đi tìm lại nguyên tác đoạn văn mà bạn đã nêu trong thư. Vì bạn chỉ nêu số tập trong Tục tạng kinh cũng như các chỉ mục tương ứng, nhưng có một điều mà bất cứ một người làm công tác nghiên cứu nào cũng cần phải lưu ý, đó là số năm và nơi xuất bản của tác phẩm. Vì lẽ, cùng một tác phẩm nhưng số trang sẽ hoàn toàn khác nhau nếu như được in vào những thời điểm khác nhau, ở những quốc gia khác nhau. Do đó, khi tra cứu Tục tạng kinh do Tân Văn Phong tái bản năm 1982 tại Đài Loan, chúng tôi đã phát hiện ra điều mà bạn đã nằm ở tập 70, trang 506.

Mặt khác, căn cứ vào đoạn kinh được trích dẫn trong Tục tạng kinh mà bạn đã đưa ra, chúng tôi được biết, trong Đại Chính tân tu Đại tạng kinh, kinh Đại Bát Niết Bàn (Nam bản) có 36 quyển thì phần trích dẫn nằm tương ứng ở quyển 36 và chỉ khác biệt một vài từ. Nếu như tra cứu Đại Chính tân tu Đại tạng kinh với phiên bản điện tử, bạn có thể tìm vào tập 12, file mang số 0375 – 036 để đối chiếu.

Trở lại nghi vấn bổ sung mà bạn đã đưa ra, chúng tôi xin được trích lại nguyên văn mà bạn đã dẫn ra trong Tục tạng kinh: “Niết Bàn kinh vân: Phật cáo Văn Thù Sư Lợi: A Nan tỳ kheo, thị ngô chi đệ, cấp sự ngã lai, nhị thập dư niên, sở khả văn pháp, cụ túc thọ trì. Dụ như tả thuỷ, trí chi nhất xứ. Ngã Niết bàn hậu, A Nan Tỳ kheo sở vị văn giả, “Hoằng Quảng” Bồ tát tương năng lưu bố. A Nan sở văn tự năng tuyên thông”. (Tạm dịch:Kinh Niết Bàn nói: Phật dạy Văn Thù Sư Lợi, Tỳ kheo A Nam là đệ tử của Ta, đã nắm vững những giáo pháp mà mình đã nghe trong hai mươi năm qua, làu thông như nước chảy. Sau khi Ta Niết bàn, những điều nào mà Tỳ khoe A Nan chưa được nghe thì các bị Bồ tát đã từng nghe pháp của ta, sẽ diễn giảng. Ngài A Nan nghe rồi tự mình có thể thông suốt).

Nếu như chỉ dựa vào phần trích dẫn trong Tục tạng kính thì chúng ta dễ dàng đi đến một sự ngộ nhận, cho rằng “Hoằng Quảng” là tên riêng của một vị Bồ tát. Nhưng thực tế, sau khi đối chiếu kinh Đại Bát Niết Bàn (Nam bản) thì phía trước đoạn trích dẫn ở trên, Đức Phật đã từng dạy, đại ý như sau: “Trong đại chúng này có vô lượng vô số Bồ tát. Mỗi vị Bồ tát đều có sở nguyện riêng của mình. Nếu như có ai không thể thuyết mười hai bộ kinh thì các vị Bồ tát đây vò long từ bi mà tuyên thuyết”.Từ đoạn kinh này cho ta thấy Đức Phật là một bậc chu toàn. Mặc dù hoàn toàn tin tưởng vào khả năng ghi nhớ của ngài A Nan, nhưng giả như A Nan còn có điều gì chưa biết, chưa nghe thì các vị Bồ tát, Thánh đệ tử sẽ nói lại cho đại chúng và cho ngài A Nan nghe.
Từ những điều đã trình bày, theo thiển ý của chúng tôi, “Hoằng Quảng” không phải là tên riêng của một vị Bồ tát và ngài A Nan vẫn xứng danh là một bậc Đa văn đệ nhất, vì ngài hoàn toàn hội đủ những tố chất cần thiết để tuyên truyền lưu giáo điển sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt.

VỀ TÔN GIẢ A NAN

HỎI: 

Được biết, ngài A Nan sinh ra vào ngày Phật thành đạo và năm 25 tuổi mới xuất gia. Như vậy, Phật thành đạo trước hai mươi lăm năm thì ngài A Nan mới xuất gia. Nhưng trong các kinh lúc nào cũng có câu: “Như thị ngã văn” (như vầy tôi nghe) được xem là câu nói của ngài A Nan. Vậy, những bộ kinh mà Phật thuyết trước khi ngài A Nan xuất gia thì làm sao mà ngài nghe được, để sau này trung tuyên lại trong các cuộc kết tập kinh điển?

ĐÁP:

Chúng tôi hoàn toán tán thán trước một “nghi vấn” rất hợp lý của bạn! Khi đọc kinh điển Phật giáo, nếu ai cũng biết đặt ra những suy tư, thắc mắc thì con đường hoàn thiện tri thức sẽ gần lại với mỗi người.

Đúng như bạn đã hiểu, ngài A Nan sanh vào năm mà Đức Thế Tôn vừa thành đạo, đến năm 25 tuổi mới xuất gia. Trong cuộc đời của ngài A Nan, ngài đã có một sứ mạng đặc thù: đảm nhận vai trò hậu cần (thị giả) Đức Phật.

Vì lẽ, trong suốt hai mươi lăm đầu, Đức Thế Tôn không có thị giả riêng.Khi thì ngài Nàgasamlà, khi thì ngài Nàgita… thay nhau đảm nhận công việc thị giả. Đến năm 56 tuổi, vì quán sát căn cơ của chúng sanh và cũng như để thuận lợi hơn trọng cuộc hoằng hoá tử chúng nên Đức Thế tôn muốn có một vị thị giả thường trực. Trong lúc ấy, các vị đại đệ tử nhu ngài Xá lợi Phất, Mục 
Kiền Liên, Kiều Trần Như… đưa ra nhiều ứng viên có khả năng đảm nhiệm công việc thị giả nhưng không được Phất chấp nhận.Cuối cùng, chư vị Tỳ kheo đề nghị ngài A Nan làm thị giả. Trước tình hình này, ngài A Nan nhận lời nhưng với một lời thỉnh cầu mang tính điều kiện. Đó là ngài sẽ đảm nhận trọng trách làm thị giả cho Đức Thế Tôn nếu như Thế Tôn chịu từ chối bốn việc và chấp nhận bốn liên quan đến A Nan.

Bốn việc từ chối đó là: không cho A Nan y, đồ ăn, một phòng riêng và được mời ăn, vì nếu không từ chối thì ảnh hưởng của tứ chúng đối với ngài A Nan sẽ không tốt. Bốn việc chấp nhận: Thứ nhất, nếu A Nan được mời thọ trai thì Thế Tôn sẽ sẵn lòng đi dự.Thứ hai, Thế Tôn sẵn lòng gặp những người ở xa đến và do A Nan giới thiệu. Thứ ba, Thế Tôn chấp nhận cho A Nan tiếp kiến nếu như A nan gặp phải những sự phân vân, khó xử. Thứ tư, Thế Tôn sẽ giảng lại những bài kinh khi A Nan vắng mặt. (Theo Tiểu Bộ kinh III, Trưởng Lão Tăng Kệ, chương 17, phẩm Ba mươi kệ, phần Ananda, NXB. tP.HCM, 2000, tr.456). Trong bốn điều chấp nhận mà ngài A Nan đã đưa ra, đáng chú ý nhất là điều cầu thỉnh sau cùng: Phật sẽ giảng lại những bài kinh mà A Nan chưa được nghe. Cũng tương tự như thế, trong kinh Đại Bát Niết Bàn (Bắc bản), ngài Xá Lợi Phất đã khẳng định với tứ chúng rằng, ngài A Nan hầu Phật trên 20 năm, có tám điều không thể nghĩ bản, điều thứ năm là cầu thỉnh Đức Phật thuyết cho ngài nghe 12 bộ kinh (Ngũ giả, tự sự ngã lai trì ngã sở thuyết thập nhị bộ kinh), (Đại Bát Niết Bàn kinh, quyển 40, Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh).

Như vậy, căn cứ vào Tiểu Bộ kinh và Đại Bát Niết Bàn kinh đều đề cập đến một lời thỉnh cầu rất mực quan trọng: xin Đức Phật thuyết cho A Nan nghe những bài pháp mà A Nan không được dự trong các pháp hội trước đó. Đây là một trong những lời thỉnh cầu quan trọng để rồi từ đây, ngài A Nan có đủ điều kiên nhân duyên nghe lại toàn bộ pháp thoại mà Đức Phật đã thuyết, không loại trừ những bài pháp mà Đức Phật đã thuyết trước lúc A Nan xuất gia. Mặt khác, cũng nên lưu ý rằng, với tư chất thông tuệ, ngài A Nan có một khả năng ghi nhớ tất cả những lời giảng dạy của Phật. Điều này, Đức Phật đã khẳng định như sau: “Tỳ kheo bậc nhất trong chúng Thanh văn của Ta: biết thời, rõ vật, gặp vật không nghi, ghi nhớ không quên, nghe nhiều sâu rộng, kham nhẫn kính thờ người tên là “Tỳ khoe A Nan” (Đại tạng kinh Việt Nam, Kinh Tăng Nhất A Hàm I, Viên NCPHVN ấn hành, 1997, tr.69). Do đó, dường như trong tất cả các kinh văn mà chúng ta thường trì tụng sau này đều được khởi đầu bằng sự khẳng định của A Nan: “tôi nghe như vầy” và sự khẳng định đó hoàn toàn đầy đủ cơ sở vì chính bản thần ngài A Nan đã nghe.

Suốt hai mươi lăm năm trời, bất kể thời gian, sự khắc nghiệt của thời tiết, điều kiện sức khoẻ của bạn thân mình:ngài A Nan đã bất chấp tất cả để thực hiện trọn vẹn sức mạng thị giả hầu Phật. Ngoài công việc thường nhật hầu cận Đức Thế Tôn, ngài A Nan còn là một sự giả truyền đạt thông tin cho tứ chúng, khởi phát nhân duyên để Phật cho phép nữ giới được xuất gia, giúp đỡ huynh đệ đồng tu trong lúc khó khăn, bệnh tật… và trên hết, công hạnh vĩ đại nhất của ngài A Nan là nhờ khả năng ghi nhớ vô song của mình làm pháp vị của Đức Thế Tôn vẫn còn lưu lộ và làm tươi nhuận nhân gian.

LỐI CŨ TA VỀ

HỎI:

Tôi là một Phật tử thuần thành, hiện đang nỗ lực tu học. Tôi luôn mong muốn hoàn thiện mình để xây dựng đời sống gia đình hạnh phúc. Thế nhưng một trở ngại và thử thách lớn đã đến với tôi trong cuộc sống cũng nhu tu tập, đó là thời gian gần đây chồng tôi có quan hệ tình cảm với một cô gái khác

ĐÁP:

Có lẽ, trong các niềm đau của con người thì sự thiếu thuỷ chung của người bạn đời là một niềm đau lớn. Tổn thương tình cảm, lòng tự trọng tuy vô hình nhưng hậu quả rất khó lường và dấu ấn của vết hằn này cũng không dễ nhạt nhoà trong tâm thức. Dẫu thực trạng của gia đình bạn đã đến mức báo động đỏ nhưng cũng chưa đến nỗi đổ vỡ hoàn toàn, sẽ cứ vãn được tinh tế nếu hai người thực sự nỗ lực hàn gắn.

Là một người vợ, người mẹ mà đặc biệt là người Phật tử, hẳn bạn đã biết rằng không có một sự việc nào xảy ra mà chẳng có nguyên nhân và theo đặc tính duyên khởi thì không có nguyên nhân nào mang tính đơn lẻ phức hợp, đa chiều, trùng trùng điệp điệp. Phải tìm ra nguyên nhân thì bạn mới đủ khả năng và cơ hội khắc phục hậu quả. Bất hạnh của gia đình bạn ngày hôm nay, bình tâm mà xét, khoan vội nói đến chồng bạn, thì chắc chắn có nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp từ phía bạn.

Trước hết bạn cần tự vấn lương tâm, cẩn trọng xem xét lại mình đã thực sự là hậu phương, là điểm tựa vững chắc cho chồng hay chưa? Người ta thường nói người chồng phải là trụ cột của gia đình để vợ con nương tựa.Thế nhưng thực tế hôn nhân thì chồng vợ phải nương tựa vào nhau, nâng đỡ lẫn nhau. Nhất là trong bối cảnh đời sống đầy biến động và bất trắc của xã hội hiện đại thì nhu cầu tìm một chỗ dựa an ổn, vững chắc là mái ấm gia đình trở nên vô cùng cần thiết. Bao mệt mỏi, căng thẳng, lo toan cùng thăng trầm vinh nhục của người chồng vì cuộc mưu sinh sẽ thành mây khói khi về đến mái ấm gia đình. Vì nơi ấy, chốn bình yên nhất trong đời, con cái bi bô, vợ cười tươi tăn, nhà cửa sạch sẽ, cơm nước tinh tươm v.v… Nếu được như vậy, thì dù bất cứ hoàn cảnh nào, dù ai có mời gọi hấp dẫn đến đâu nữa, kẻ đàn ông, người chồng vẫn tâm tâm niệm niệm điệp khúc “lối cũ ta về”.

Trong đời sống tình cảm vợ chồng, luôn tiềm tàng trong sâu thẳm của tự tâm mỗi người là mong muốn được hiểu, được thương, được tôn trọng và trên hết là được tha thứ. Đối với chồng của bạn, dĩ nhiên anh ta đã phạm phải một sai lầm lớn. hy vọng rằng sai lầm này chỉ là sự nhất mất phương hướng, bộc phát khi chơi vơi hụt hẫng, có tính “lầm lỡ” tham lam hơn là sự phản bội. Đành rằng có những sai lầm không thể tha thứ nhưng không thể vì một sai lầm để rồi phủ nhận tất cả mà đặc biệt là con cái, rồi đây con cái sẽ đi về đâu, chúng có tội tình gì mà phải bơ vơ, lạc lõng? Do vậy, thương mình và thương con là điều mà tự thân mỗi người (vợ, chồng) phải quán niệm, chiêm nghiệm trong lúc này. Chính trăn trở về tương lai của bản thân, gia đình và đặc biệt là con cái sẽ làm cho các bạn thức tỉnh rằng các bạn cần phải có nhau và đó là động lực mạnh mẽ cho sự tái hợp, hàn gắn. Để làm được điều này, tự thân mỗi người phải nỗ lực nhận ra những lầm lỗi, hạn chế của mình là liệu pháp tối ưu cho sự hàn gắn. Điều cần có hơn bất cứ điều gì ở bạn trong lúc này là sự tha thứ. Bao dung và tha thứ là cánh cửa đầu tiên giúp chồng bạn phản tỉnh, quay về. sự giận dữ, ghen tuông, đau khổ và thù hận không phải là giải pháp mang lại hiệu quả tích cực, thậm chí còn tác dụng ngược lại, làm cho tình hình càng bi đát thêm.

Tận trong tâm khảm của chồng bạn là vợ và các con chứ không phải bấ kỳ ai khác. Bạn phải tin chắc vào điều này, chuyện lăng nhăng của chồng bạn là tập khí đi hoang nhất thời của đan ông (đàn bà cũng vậy thôi), dẫu sai trái vô cùng nhưng có thể khắc phục được. Xét cho cùng thì “rung rung lá về cội”, mấy ai mà “chẳng biết nơi nào là chốn quê nhà”? Vì vậy, bạn hãy gượng dậy chứng tỏ mình là cội cho lá rụng về, mình là chốn quê xưa cho người xa xứ hoài niệm. Bạn hãy mở rộng vòng tay cùng với tấm lòng đồng thơi danh thời gian chăm sóc chồng con nhiều hơn và đặc biệt là tự trang bị cho thân tâm bạn luôn tươi mát, nhẹ nhàng, dễ thương v.v… Lạt mềm mới buộc chặt, nếu ứng xử nhuần nhuyễn, chúng tôi tun tưởng rằng bạn sẽ thành công, chồng bạn sẽ tự nguyện quay về, gia đình bạn lại đoàn viên, hạnh phúc

MÓN CHAY GIẢ MẶN, NÊN CHĂNG?

HỎI:

Vừa rồi tôi được biết thông tin qua một bản photocopy về một bài báo của Trần Thế Tài (từ Đài Loan gởi về), cho rằng một số món chay có nguồn gốc từ Đài Loan nhưng chứa thịt động vật, làm cho người ăn chay phá giới. Qua kiểm chứng, chúng tôi ghi nhận có rất nhiều món chay Đài Loan với nhiều hình thù và mang hương vị “kỳ lạ” như ham, tôm, gà, cá thu… Tôi hiện rất băn khoăn về tên gọi “mặn” của các món chay cùng xuất xứ của những món chay ngoại nhập này, có nên tiếp tục sử dụng chúng hay không?

ĐÁP:

Ăn chay, với một người dù không phải là Phật tử, nhưng bằng sự hiểu biết thông thường, ai cũng hiểu nôm na đó là phong cách ẩm thực thanh khiết, chỉ ăn thức ăn có nguồn gốc thực vật. Và, sẽ hết sức gập ghềnh, khiên cưỡng khi gán cho những thức ăn ấy tên gọi của những món mặn cho những món chay có từ bao giờ, mà vấn đề được đặt ra là chất lượng cũng như xuất xứ của những món chay theo thư bạn đã mô tả.

Theo khảo sát của chúng tôi, hiện giờ có rất nhiều món chay được nhập khẩu (chính thức) từ Đài Loan qua những công ty thực phẩm có uy tín tại Việt Nam. Thế nên, xuất xứ cũng như hàm lượng dinh dưỡng đều tuân thủ theo những nguyên tắc chung về quy định an toàn thực phẩm và những thông số bắt buộc đó đều được in sẵn trên bao bì. Cho nên, khi mua thức ăn chay được nhập từ những đơn vị này; thiết nghĩ, tính đúng đắn về thành phần, chất lượng (độ thanh khiết), hàm lượng dinh dưỡng và các điều kiện vệ sinh khác đã được kiểm định và bảo đảm. Do đó, việc sử dụng những nguyên liệu chay này, xét về mặt thanh khiết, hoàn toàn đảm bảo và có thể an tâm sử dụng.

Thế nhưng, vấn đề được đặt ra ở đây, vì có rất nhiều công ty sản xuất thực phẩm chay ở Đài Loan và con đường nhập khẩu những thức ăn chay ấy vào Việt Nam cũng rất nhiêu khê, phức tạp. Do đó, sẽ không có gì đảm bảo, nếu như chúng ta mua những thức ăn chay có nguồn gốc từ Đài Loan nhưng không rõ xuất xứ. Cho nên, bạn cũng nên cân nhắc kỹ điều này.

Được biết, nguyên liệu để chế biến thức ăn chay có hương vị “Đài Loan” hiện nay Việt Nam đã sản xuất được. Ngay cả một số món ăn chay có quy trình chế biến phức tạp như các món chay của Nhật Bản, Hàn Quốc… cũng được các đầu bếp Việt Nam chế biến thành công bằng nguyên liệu tại chỗ. Nếu như bạn có nhu cầu tìm hiểu về cách thức chế biến các món ăn chay mang phong cách nước ngoài , thì trên thị trường sách báo hiện nay, có rất nhiều các tác phẩm, cẩm nang chế biến các món ăn chay từ thị trong nước cho đến nước ngoài, mang nhiều hương vị đặc thù khác nhau.

Tuy nhiên, có một điều không phải ở chất lượng hay hương vị, mà như đã nói ở phần đầu, đó là vấn đế tên gọi những món ăn chay. Vì lẽ, thắc mắc của bạn đã đồng thời nêu lên một thực trạng và đang xảy ra trong hoạt động văn hoá ẩm thực chay ở nước ta nói chung và các chùa nói riêng. Đó là việc chế biến những món chay giả mặn! Thực trạng này đã và đang diễn ra trong một số nhà hàng, quán ăn chay và thậm chí ở những ngày lễ hội trong chốn thiền môn.

Dẫu biết rằng, tên gọi một con người, một dòng sông, một quang cảnh… được định hình theo tập quán, thói quen. Việc gọi tên những món chay giả mặn dường như từ lâu đã in sâu trong tâm trí những người đứng bếp. Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi tên gọi, tập tục đó bằng một sự nỗ lực, bằng một sự định hướng. Khảo sát những món chay Thượng Hải, có những tên gọi rất hay như: Nghĩa đào viên, Kim ngọc mãn đường, Thuý đề ngân liễu… Tên gọi những món chay đó tuy chỉ mang tính tự phát, nhưng nếu như chúng ta có một sự đầu tư hơn nữa, có một động thái tích cực hơn nữa, xét về phương diện giá trị thẩm mỹ, văn hoá, giáo dục và định hướng thì việc gọi tên các món ăn chay một cách hợp lý sẽ có những ảnh hướng tích cực hơn.

Món ăn chay đầy đủ hàm lượng dinh dưỡng, được chế biến và trình bày có tính thẩm mỹ cao, nhất là hợp lý với tên gọi “chay” sẽ tạo nên một ảnh hưởng giáo dục rất lớn đối với người cảm thụ. Vài lời sẻ chia, chúc bạn vững tin trong việc lựa chọn thức ăn chay của mình và có nhiều sáng kiến để đặt tên cho những món chay mang âm hưởng của dân tộc và đạo vị giải thoát.

NGƯỜI PHẬT TỬ CÓ NÊN HIẾN XÁC HAY KHÔNG?

HỎI:

Là Phật tử, tôi nhận thức được rằng thân xác là do tứ đại giả hợp, khi chết thì tứ đại sẽ tan hoại trở về với tứ đại. Vậy nên tôi phát đại nguyện bố thí thân xác cho khoa học. Tôi nghĩ sẽ có ích hơn, ít ra cũng góp phần nghiên cứu để chữa bệnh cho con người. Tuy nhiên, tôi được biết sau khi nhận xác, cơ quan tiếp nhận xác phải tiến hành các thủ tục cần thiết để ướp xác nhằm bảo quản. Thực hiện các thủ tục ướp xác trong thời điểm mới chết này, theo quan điểm Phật giáo có trở ngại cho thần thức trong quá trình tái sinh không? Xin được tư vấn về việc này và muốn hiến xác phải liên hệ với cơ quan nào, bao gồm thủ tục gì? 

ĐÁP:

Bố thí là một pháp tu quan trọng, tối cần cho những người con Phật nhằm tăng thượng phước báo của tử thân. Bố thí được thực hành trên nhiều phương diện như tài thí, pháp thí và vô úy thí. Trong đó, bố thí nội tài tức sức lực mà đặc biệt là thân thể và sinh mạng là bi nguyện vô cùng cao cả, rất đáng được trân trọng.

Một trong những tuệ giác mà người Phật tử luôn quán sát để thấy rõ là thân mạng của chính mình do tứ đại giả hợp, vốn vô thường và sanh diệt. Chính tuệ tri về tứ đại duyên hợp, tụ tán vô thường, sanh lão bệnh tử, sáng còn tối mất đã giúp xả ly tham ái và chấp thủ xác thân. Sau khi con người chết đi, xác thân tứ đại làn lượt tán hoại để trả về tứ đại. còn thần thức tùy theo nghiệp mà lực tái sinh vào các cảnh giới tương ứng trong lục đạo.

Nói chung, Phật giáo không mấy quan tâm đến xác sau khi chết, mà chỉ chú trọng đến việc khai thị và hướng dẫn thuần thức để giải thoát hay tái sanh vào cõi lành. Vậy thì, sau khi chết nếu thân xác còn hữu ích cho nhân loại, tức hiến xác cho khoa học là một điều tốt. Tuy nhiên, vấn đề quan yếu cần lưu tâm ở đây là việc bảo hộ và cứu độ thần thức sau khi chết.

Căn cứ vào những kinh điển liên quan đến việc trợ niệm cho người khi lâm chung, thì khi chấm dứt hơi thở, người bệnh được xem như đã chết lâm sàng nhưng thần thức vẫn chưa rời khỏi thân xác và tất nhiên vẫn còn tri giác. Vào thời điểm này, thần thức vô cùng thống khổ: tứ đại phân ly làm đau đớn tốt cùng, cảm thương thân phận đã chết, luyến ai vợ con, thương tiếc tài sản, sở nguyện chưa thành, oan sai chưa tỏ v.v… Lúc ấy, nếu cộng thêm việc than xác người chết bị lay động, xê dịch, uốn nắn, tắm rửa, tiêm thuốc… cùng vời âm thanh kêu gào hỗn loạn, khóc lóc thảm thiết của thân nhân càng khiến cho thần thức hoang mang thống khổ hơn. Dù đau đớn đến cùng cực nhưng thần thức không thể kêu cứu hoặc kháng cự, vì thế họ giãy giụa trong tuyệt vọng, khởi tâm sân hận đến tột cùng và do đây mà bị đọa lạc vào cõi dữ.

Do vậy, để tránh cận tử nghiệp xấu ác khởi lên lúc mới chết, từ khi tắt hơi thở cho đến mười giờ sau, thân nhân người chết cần tránh mọi sự can thiệp, tác động hoặc xúc chạm đến xác chết như đã nói, đồng thời giữ không gian yên lặng, chỉ duy nhất niệm danh hiệu Phật A Di Đà nhằm duy trì chánh niệm, bảo vệ và trợ tiến cho thần thức văng sanh Tịnh độ. Phải chờ đến lúc thần thức ra khỏi xác thân (thường thì khoảng từ 8 giờ - 10 giờ sau), gia đình mới thực hiện tẩn liệm, an táng hoặc cho phép đưa xác đi.

Trở lại vấn đề hiến xác cho khoa học, theo quan của Phật giáo là tùy duyên không khuyến khích và cũng chẳng ngăn cấm. Nhưng điều cần lưu ý cho những ai phát nguyện bố thí thân xác là trừ trường hợp những vị cao tăng đắc đạo hoặc những người đã thành tựu tuệ giác vô ngã, từ bi hỷ xả vô lượng, làm chủ được thần thức, còn đại đa phần chúng ta muốn cho thần thức không bị tổn thương dẫn đến đọa lạc, bản thân người phát nguyện hiến xác và thân nhân phải nắm vững và tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc bảo hộ thần thức nói trên.

Nói cách khác, một khi phát nguyện hiến xác, tức chúng ta đã khởi tâm Bồ đề, tâm nguyện ấy sẽ được giữ vững nếu như từng ngày, từng giờ, từng phút giây chúng ta cung cấp những ý niệm thiện lành làm chất liệu nuôi dưỡng. Khởi tâm đại bi là điều đáng ca ngợi, tán thán, thế nhưng việc giữ gìn và trưởng dưỡng nó càng được trân trọng, ca ngợi hơn bội phần. Bởi nếu không được tưới tẩm bằng chất liệu thiện pháp và trưởng dưỡng bằng những việc làm tương ứng, lỡ một mai kia khi tâm đại bi ấy bị thui chột và bất ngờ gặp cảnh thân hoại mạng chung mà thần thức người hiến xác không duy trì được trách niệm, móng khởi chấp thủ và sân hận thì tâm nguyện hiến xác cao cả ấy trở thành lợi bất cập hại, chẳng những không được phước mà còn bị đoạ lạc. Vì thế, người Phật tử nên cân nhắc và có sự chuẩn bị kỹ lưỡng trước quyết định quan trọng này.

Về phía cơ quan tiếp nhận hiến xác, trao đổi với bà Trương Thị S.M, cán bộ Bộ môn Giải phẫu học, Trường Đại học Y Dược TP.hcm, chúng tôi được biết xác chết nếu được tiếp nhận trước 10 giờ đồng hồ sẽ rất lý tưởng cho trình bảo quản. Tuy nhiên, thời gian tiếp nhận còn tuỳ thuộc vào thông tin sớm hay muộn của thân nhân và nhất là phải sau các nghi lễ tôn giáo của người hiến xác. Khi đem xác về, bộ phận chuyên môn sẽ tiến hành các kỹ thuật ướp xác rồi đưa vào bảo quản, sau đó là sử dụng (chủ yếu là nghiên cứu và thực tập phẫu thuật). Sau khi sử dụng xong, tối thiểu là 5 năm, xác chết được đưa đi hoả táng, nếu người hiến xác hoặc thân nhân có yêu cầu thì hài cốt (tro) được hoàn trả như sở nguyện.

Thủ tục đăng ký hiến xác rất đơn giản, người hiến xác chỉ cần mang CMND đến Bộ môn Giải phẫu học, Trường Đại học Y Dược TP.HCM để đăng ký. Muốn biết thêm thông tin chi tiết về hiến xác, xin liên hệ Bộ môn Giải Phẫu học, Trường Đại học Y Dược TP.HCM, 217 Hồng Bàn, quận 5, TP. HC. Điện thoại (08) 8558411 hoặc (08) 8537949 sẽ được hướng dẫn cụ thể.

Ý NGHĨA CHỮ VẠN

HỎI:


Tại sao ở một số chùa, chúng tôi thấy hình chữ Vạn ngoặt sang bên phải nhưng có khi theo chiều ngược lại. Chữ vạn của Phật giáo khác với chữ “Vạn” của phát-xít đức như thế nào?


ĐÁP:


Căn cứ vào kinh Sơ Đại Bổn Duyên (Trường A Hàm), thì chữ Vạn là một trong 32 tướng tốt của Phật, là tướng tốt thứ 116 nằm trước ngực của Phật.Theo Đại Tất Già Ni càn Tử Sở Thuyết kinh, quyển 6 nói, đó là tương tốt thứ 80 của Thế Tôn Thích Ca, nằm trước ngực. Trong Thập Địa kinh luận, quyển 12 có nói, khi Bồ tát Thích ca chưa thành Phật, giữa ngực có tương chữ Vạn kim cương, biểu thị công đức trang nghiêm. Đó chính là tướng công đức trước ngực mà người ta thường nói. Nhưng kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm, quyển 3 có nói, đều tóc của Phật cũng có 5 tướng chữ Vạn. Trong Hữu bộ Tỳ nại da tạp sự, quyển 29 nói, ở lưng của Phật cũng có tướng chữ Vạn. Chữ vạn chỉ là phù hiệu mà không phải là chữ viết. Nó biểu thị điềm lành tuyệt diệu không gì so sánh được, goi là điềm lành hải vân.

Vì vậy, kinh Đại Bát Nhã, quyển 381 nói rằng: Chân tay và trước ngực của Phật đều có “Cát tường hỷ toàn” để biểu thị công đức của Phật. Đại trí độ luận, quyển thứ 89, phẩm tứ nhiếp thứ 78 có nói: Tay, chân, hông và ngực của Đức Thế Tôn có đầy đủ các tướng các tường. Nhìn chung, trong kinh văn Nguyên thủy, chữ Vạn ít được đề cập và được xem là một trong 32 tướng tốt. Tuy nhiên, trong rất nhiều kinh luận Đại thừa như vừa nêu thì chữ Vạn được đề cập rất nhiều, biểu thị cho tính chất an lành, cao quý.


Phù hiệu chữ Vạn có chữ ngoặt sang bên phải, có chữ ngoặt sang bên trái. Theo Tuệ Lâm nhất Thiết kinh âm nghĩa, quyển 21 (ĐCTTĐTk, tập 54), Tuệ Uyển âm nghĩa và kinh Hoa Nghiêm thì tất cả có 17 chỗ nói với hình chữ Vạn ngoặt sang bên phải. Thời kỳ xa xưa, các giáo chủ Ấn Độ cổ, phàm là những Thánh vương chuyển luân cai trị thế giới đều có 32 tướng tốt. Phật là đấng Pháp vương cho nên cũng có 32 tướng tốt. Điều này đã được ghi trong Kim Cương Bát Nhã.


Gần đây, thỉnh thoảng có sự tranh luận về chữ Vạn ngoặt sang phải hay ngoặt sang trái; đại đa số đều cho rằng ngoặt sang phải là đúng, ngoặ sang trái là sai. Nhất là trong những năm 40 của thế kỷ XX, Hít - le cũng dùng hình chữ “Van” ngoặt bên trái, Phật giáo dùng chữ Vạn ngoặt sang bên phải. Thức ra, thì ở thời Vũ Tắc Thiên đời Đường đã có chữ Vạn rồi, đọc là chữ “Nhật” tượng trưng cho mặ trời, chữ ấy ngoặt sang bên trái. Hít – lê dùng chữ “Vạn” hình góc nghiên, đó là “dấu thập ngoặc (croix brisée), viết tắt của hai chữ S (State: Quốc gia) và S (Social: Xã hội); còn Phật giáo dùng chữ hìn vuông. Ấn Độ giáo thì lấy chữ ngoặt sang bên phải biểu thị thần nam giới, ngoặt sang bên trái biểu thị thị thần nữ giới.


Căn cứ vào công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Quang Đảo Đốc ở Trương Đại học Quốc Sĩ Quán (Nhật Bản) thì chữ Vạn vốn không phải là chữ viết, từ thế kỷ VIII trước tây lịch đã xuất hiện trong kinh điển Bà La Môn, với ký hiệu là Vátsa, cho tới thể kỷ thứ III trước Tây dịch lại đổi tên là Svastiko, vốn là tướng hình trôn ốc túm lông ngực của thần chủ Tỳ Thấp Noa, sau đó trở thành một trong 16 tướng tốt, rồi lại thành một trong 32 tướng tốt.


Tóm lại, trong Phật giáo, chữ Vạn là phù hiệu, không phải là chữ viết. Viết xoay bên trái hay bên phải đều được (Thích Minh Châu – Minh Chi, Từ điển Phật học Việt Nam, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1991, tr.756). Do vậy, dù là ngoặt sang bên phải hay ngoặt sang bên trái, chữ Vạn đều dùng để tượng trưng cho trí tuệ và lòng từ bị vô hạn của Phật. Chữ Vạn ngoặt ra hai bên biểu thị sự vận động vô hạn của Phật lực, kéo dài vô hạn tới bốn phương, mở rộng vô cùng tận, luôn luôn không ngừng tế độ chúng sinh vô lượng ở mười phương. Cho nên, cũng chẳng nên chấp hình chữ Vạn ngoặt sang phải hay ngoặt trái.


Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi thì khuynh hướng chữ Vạn ngoặt sang bên phải là một quan điểm đang được phân đông quần chúng Phật tử chấp nhân. Nên chăng, các cơ quan hữu quan nhu ngành văn hóa của Giáo hội chẳng hạn, cần phải xem xét vấn đến này và nhanh chóng đi đến một sự thống nhất chung, để tạo tính thuần nhất về những biểu tượng đặc thù của Phật giáo.

HÔN NHÂN & BẤT ĐỒNG TÔN GIÁO

HỎI:


Tôi là một Phật tử thuần thành, gia đình có truyền thống Phật giáo, quy kính Tam bảo. Tôi thường xuyên đến chùa tụng kinh, học hỏi giáo lý. Vì hoàn cảnh riêng nên tôi phải lên thành phố học tập và làm việc. trong thời gian này, tôi đã yêu một người con gái, cô ấy cũng rất thương tôi và chúng tôi có ý định tiến đến hôn nhân. Tiếc rằng, người yêu tôi của tôi bắt buộc tôi phải theo tôn giáo của cô ấy và nói rằng đó là điều kiện để đi đến hôn nhân. Tôi không muốn mất cô ấy, khuyên cô ấy theo tôi thì tôi không có khả năng mà bỏ đạo thì không thể. Xin cho tôi một lời khuyên.



ĐÁP:


Một trong những yếu tô cơ bản để cấu thành cuộc hôn nhân bền vững ngoài tình yêu là hiểu biết và tôn trọng lẫn nhay. Trong hôn nhân, cố nhiên tình yêu vốn quan trọng song chỉ có tình yêu đơn thuần thì chưa đủ. Một tình yêu đúng nghĩa phải vượt lên tất cả những chướng ngại bằng lòng bao dung, tâm vị tha và đặc biệt là sự tôn trọng.


Có thể các bạn “cảm” nhau, thương nhau nhưng chưa thực sự đạt đến độ chín của tình yêu chân thật. Trở ngại lớn nhất giữa các bạn bây giờ là niềm tin tôn giáo mà tôn giáo và tín ngưỡng lại thuộc phạm trù thiêng liêng, vốn bất khả xâm phạm. Theo như tâm sự của bạn trong thư thì chính bản thân bạn cũng như người yêu của bạn, cả hai đều có lập trường kiên định trong việc bảo về niềm tin của mình.

Giữ vững niềm tin là điều tốt, song éo le ở chỗ là tôn giáo hiện hữu trên đời để hướng thiện con người, giúp con người ngày một thăng hoa và tiến bộ trên phương diện đạo đức và tâm linh trong đó có vấn đề bảo vệ và xây dựng tình yêu chứ không phải làm chướng ngại, ngăn cách tình yêu. Vấn đề đặt ra ở đây là người yêu của bạn “thách cưới” bằng việc bắt buộc bạn phải từ bỏ tôn giáo của mình để theo tôn giáo của cô ấy. Nếu không thỏa mãn yêu cầu này thì hôn nhân chỉ là chuyện trong mơ. Chính yêu cầu này bộc lộ một điều rằng cô ấy quá ích kỷ, hẹp hòi; bảo vệ niềm tin một cách thiển cẩn, thiếu tôn trọng và yêu tôn giáo của mình hơn yêu bạn
Một khi lập trường hôn nhân của người yêu bạn nghiêng nặng về tôn giáo hơn là tình yêu đồng thời ra điều kiên cho bạn muốn đi đến hơn nhân với cô ấy thì phải bỏ đạo, chính vì điều này mà bạn cần phải sáng suốt cân nhắc và kiểm định lại quyết định hôn nhân của mình. Bởi lẽ, điều kiện trên đã cho thấy người yêu của bạn sẵn sàng hy sinh tình yêu để bảo vệ tôn giáo đồng thời lộ rõ sự thiếu tôn trọng, xúc phạm đến niềm tin tôn giáo thiêng liêng của bạn.

Còn đối với bạn, dù yêu thương cô ấy và có dự định đi đến hôn nhân những vẫn giữ lập trường kiên định về niềm tin tôn giáo của mình. Bạn đã có một quyết định đúng đắn và sáng suốt. Đạo phật không chủ trương lợi dụng hôn nhân để quy nạp tín đồ đồng thời cũng không khắt khe đến độ cực đoan khi bắt buộc người chung sống với mình phải cải đạo . Người Phật tử, quy hướng đạo Phật xuất phát từ niềm tịnh tín, với ý thức tự giác và tự nguyện đồng thời rất tôn trọng tín ngưỡng và niềm tin của người khác. Do vậy, bạn cũng không cần người yêu của bạn từ bỏ tôn giáo của mình để theo bạn nếu không xuất phát từ tự giác và tự nguyện, nhưng đối với riêng bản thân bạn thì cần phải sáng suốt, không mù quáng và nhất là không đánh mất lòng tự trọng của người Phật tử, vốn dĩ cao quý và thiêng liêng.

Đạo Phật là đạo giác ngộ, được làm người Phật tử là đã đặt chân lên thềm than giác ngộ, đó là một trong những căn lành mà không phải bất kỳ ai cũng có được. Do vậy, nều bạn không muốn trầm luân, đọa lạc trong đời này và đời sau thì phải giữ vững niềm tin của mình. Hôn nhân có thể đem lại cho bạn hạnh phúc trong một đời nhưng để đạt được hạnh phúc trước mắt vốn mong manh ấy mà phải thay đổi lý tuởng và niềm tin là một điều tệ hại nhất trong các điều tệ hại, vì đánh mất chánh kiến nên chắc chắn bị đọa lạc ở những đời sau.

Vẫn biết rằng nếu cùng một chí hướng và niềm tin thì rất tốt cho việc xây dựng hạnh phúc gia đình song thực tế quan điểm của hai người hiện giờ thì điều ấy trở thành không thể. Giải pháp “đạo ai nấy giữ” dù còn nhiều giới hạn và trở ngại nhưng vẫn không có tính khả thi vì điều kiện bắt buộc để tiến tới hôn nhân của cô ấy là bạn phải bỏ đạo. và đây là tín hiệu rõ ràng nhất của vấn đề rằng chuyện tình yêu của các bạn còn một khoảng trống bất hòa khá lớn, chưa hội đủ các điều kiện cần và đủ cho một cuộc hôn nhân hạnh phúc và bền vững. Do vậy, nếu đi đến hôn nhân khi tình yêu cũng như quan điểm chưa đạt đến độ hòa hợp, chín muồi thì chắc chắn sẽ bất hạnh, đổ vỡ và chuốc lấy thất bại mà thôi.

Người Phật tử luôn vận dụng trí tuệ để làm hành trang cho cuộc sống. Bạn phải luôn ý thức để quan niệm rằng hôn nhân (nếu may mắn) chỉ đem lại hạnh phúc một đời, còn Chánh pháp sẽ dẫn bước và soi đường cho bạn đạt đến hạnh phúc và an vui trong đời này và mãi mãi về sau


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 
Toggle bottom modules

Thành Viên Website



Độc giả truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay456
mod_vvisit_counterHôm qua551
mod_vvisit_counterTuần này1850
mod_vvisit_counterTuần trước2462
mod_vvisit_counterTháng này7968
mod_vvisit_counterTháng trước21487
mod_vvisit_counterTổng cộng2521317

We have: 63 guests, 2 bots online
Your IP: 107.23.129.77
 , 
Hôm nay: 24-Tháng 5-2019

Khảo Sát Phật Tử

Bạn có đi chùa thường xuyên không ?
 

Thông Báo Website

Namo Buddhaya !

Website này đang trong thời gian thử nghiệm.

Rất mong nhận được sự góp ý của quý độc giả xa gần!