BÀI KINH CẦU SIÊU & PHÁP HÀNH THIỀN TUỆ
Toogle template customization
Toggle top modules
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
PHATGIAOHOC.COM Học Phật BÀI KINH CẦU SIÊU & PHÁP HÀNH THIỀN TUỆ
BÀI KINH CẦU SIÊU & PHÁP HÀNH THIỀN TUỆ PDF. In Email
Viết bởi Chùa Phổ Minh   
Thứ sáu, 15 Tháng 3 2013 01:34

Hòa Thượng Thích Thiện Tâm giảng

do Phật tử Tâm Hạnh ghi

Hôm nay, Thầy sẽ hướng dẫn Qúy Phật tử tìm hiểu một bài kinh có ý nghĩa rất quan trọng trong Giáo lý Đạo Phật, cũng là bài kinh khá quen thuộc, được đọc tụng trong các dịp ma chay, đám dỗ: Kinh Cầu Siêu.

Thế nào gọi là Kinh Cầu Siêu? Có chăng khi đọc tụng bài kinh này lên thì tất thảy người đã chết đều được siêu sanh về một cảnh giới nào đó sung sướng, an nhàn hơn? Nếu nói như vậy thì những thiện nghiệp và bất thiện nghiệp người đó đã tạo tác không còn trổ quả nữa sao, chúng sẽ đi về đâu? Nhưng nếu không như vậy thì sao lại gọi là kinh cầu siêu? Điều này xem ra cũng cần phải tìm hiểu cho đến tận tường, rốt ráo, không thể hiểu kinh chỉ ở tầng nghĩa bề mặt được. “Văn nghĩa cụ túc” hay “y nghĩa bất y ngữ”, Qúy vị, một khi đã học Phật, nên có tư duy hệ thống, liên tưởng, sử dụng phép biện chứng, xem xét sự vật, hiện tượng (ý nghĩa một bài kinh) trong mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác (những lời dạy khác của Đức Phật), có thế mới mang lại nhiều lợi lạc, trí tuệ khai mở, có chánh kiến trong cuộc sống được.

Pāḷi văn:

“Aniccā vata saṇkhārā,
Uppādavaya-dhammino.
Uppajjitvā nirujjhanti,
tesaṃ vūpasamo sukho.”

Anh ngữ dịch:

“'Impermanent are compounded things, prone to rise and fall, 
Having risen, they're destroyed, their passing truest bliss.'
Bản dịch trên trang www.palicanon.org

Việt dịch:

“Các pháp Hữu vi thật không bền vững, nó có tánh Sanh Diệt là thường, vì nhân Sanh rồi Diệt, Diệt rồi Sanh, nên thường hay có sự khổ não. Chỉ có Niết-bàn là pháp Tịch diệt, dứt cả pháp Hữu vi ấy được, mới có sự an vui tuyệt đối.”

Bản dịch của Ngài Hộ Tông

Thích văn:

Aniccā: Vô thường

vata: thật vậy

sankhārā: pháp hành

Uppādavaya: Sanh – diệt (Uppāda: Sanh, vaya: diệt)

Dhammino: Đúng theo Pháp

Uppajjitvā: Nếu đã sanh lên

nirujjhanti: Tất sẽ hoại diệt
Tesam: Các pháp ấy

Vūpassamo: Vượt qua, dứt bỏ

sukho: An lạc

Pháp hữu vi (Hành)

“Các pháp hữu vi đều không bền vững, nó có tánh sanh diệt lạ thường, bởi nhân sanh rồi diệt, diệt rồi sanh nên thường hay có sự khổ não”. Vậy thế nào gọi là pháp hữu vi? Nói về hữu vi pháp, ta cần xem xét trong mối quan hệ với chữ “Pháp”. Pháp có hai, là hữu vi pháp (Pāḷi: Sankhatadhammā) và vô vi pháp (Pāḷi: Asankhatadhammā). Hữu vi pháp, còn được gọi là pháp hành (Pāḷi: saṇkhārā), là pháp tạo tác, tạo tác ở đây chính là tạo nghiệp.

Khi nhắc đến Pháp hữu vi, ta cần liên hệ đến thân ngũ uẩn. Chúng sanh nói chung, không phân biệt sắc tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, mức độ tiến hóa thân, tâm, … đều được cấu thành từ Ngũ uẩn. Ngũ uẩn (Pāḷi: Pañca khandha) là năm nhóm, năm tập hợp (Eng: Groups) gồm các yếu tố vật chất (Sắc pháp – Pāḷi: Rūpadhammā, Eng: Physical elements) và tinh thần (Danh pháp – Pāḷi: Nāmadhamā, Eng: Mental elements), cũng chính là Thân (Pāḷi: Kāya) và Tâm (Pāḷi: Citta) của mỗi chúng sanh. Bất kể chúng sanh nào cũng chỉ có hai yếu tố vật chất và tinh thần đó mà thôi. Không có gì khác ngoài hai yếu tố (Eng: Elements) này cả. Sắc pháp có Sắc uẩn (Pāḷi: Rupa khandha) (28 sắc gồm cả nội sắc và ngoại sắc), Danh pháp có Thọ uẩn (Pāḷi: Vedanā khandha), Tưởng uẩn (Pāḷi: Saññā khandha), Hành uẩn (Pāḷi: Sankhārā khandha), Thức uẩn (Pāḷi: Viññāna khandha) (gồm 89 tâm và 52 tâm sở). Lại nữa, Trong Danh Pháp, chỉ có Thức (Viññāna) là Tâm vương (Citta), còn Thọ, Tưởng, Hành đều là Tâm sở (Cetasikā). Nói một cách dễ hiểu, yếu tố tinh thần trong mỗi chúng sanh bao gồm 89 loại ý nghĩ và 52 trạng thái của ý nghĩ (chữ tâm sở - cetasikā được hiểu là những trạng thái liên hợp với ý nghĩ, sanh khởi, hoại diệt cùng với sự sanh khởi và hoại diệt của ý nghĩ, có cùng đối tượng và căn với ý nghĩ (tâm vương)). Các tâm sở này được chia ra: 7 Biến hành tâm sở (Pāḷi: Sabbacittasādhāranā) tức 7 trạng thái tâm phổ biến (Eng: universial) ở mọi loại tâm, 6 Biệt cảnh tâm sở (Pāḷi: Pakinnakacetasika) tức 6 trạng thái tâm riêng biệt (Eng: particular), 14 Bất thiện tâm sở (Pāḷi: Akusalacetasika) là các trạng thái tâm ác (Eng: immoral) và 25 Tịnh quang tâm sở (Pāḷi: Sobhanacetasika) bao gồm 19 tâm sở đẹp (Eng: beautiful) 3 tâm sở tiết chế (Eng: abstinences – liên quan đến Giới trong Bát chánh đạo), 2 tâm sở vô lượng (Eng: Illimitables), 1 tâm sở tuệ căn (Eng: wisdom).

Không đi sâu vào Vi diệu Pháp (Abhidhamma), chúng ta chú trọng đến ý nghĩa của bài kinh và nguyên lý tu tập được coi là độc đạo, duy nhất đưa đến Thắng trí, Giác ngộ, Giải thoát, Niết bàn mà thôi. Như đã phân tích ở trên, Quý vị thấy là trong 52 trạng thái của tâm (mental states) có 7 trạng thái tâm phổ biến với mọi loại tâm, tạm gọi là Biến hành tâm sở. Trong 7 tâm sở này, có Xúc, Thọ, Tưởng, Thọ, Tư, Nhất tâm và Mạng căn. Nói theo cách hiểu thông thường là sự tiếp xúc, cảm giác, nhận thức, sự cố ý, sự tập trung cao độ và yếu tố nâng đỡ các trạng thái thân và tâm.

Hành trong mối quan hệ với Nghiệp và Giới

Như đã được nói đến, Hành là Pháp tạo tác Nghiệp, sau đây, chúng ta sẽ xem xét mối quan hệ giữa Hành và Nghiệp. Trong Thập nhị nhân duyên (Pāḷi: Paṭicca Samuppāda), Tác ý hay Tư (Pāḷi: Cetanā, Eng: Discernment) bao hàm trong Hành (Pāḷi: Saṇkhārā). Lại nữa, trong Ngũ uẩn (Pāḷi: Pañcakhandha) có Hành uẩn (Pāḷi: Saṇkhārakkhandha), chính Hành uẩn này chiếm đến 50 trong tổng số 52 trạng thái của tâm. Trong 50 tâm sở này, Tác ý lại rất quan trọng, hơn tất thảy các tâm sở còn lại.  Hành cũng chính là Tư, cũng chính là Nghiệp. Nghiệp có ba là Thân nghiệp (Pāḷi: Kāya kamma), Khẩu nghiệp (Pāḷi: Vācā kamma), Ý nghiệp (Mano kamma). Hành cũng có Thân hành (Pāḷi: Kāya saṇkhārā, Eng: Saṇkhārā by body), Khẩu hành (Pāḷi: Vācā saṇkhārā, Eng: Saṇkhārā by speech), Ý hành  (Pāḷi: Mano saṇkhārā, Eng: Saṇkhārā by mano).

Đức Phật đã dạy rằng: “Này các Tỳ kheo, Như Lai nói: Tác ý chính là nghiệp” (Pāḷi: “Cetanāham Bhikkhave kammam vadāmi”). Diễn ra, ta có thể hiểu: Sự cố ý, sự chủ tâm trong hành vi trên lời nói, việc làm và ý nghĩ là nguyên nhân chủ yếu đưa đến kết quả của hành động ấy. Bởi vì Nghiệp chính là hành vi tạo tác trên lời nói, việc làm và ý nghĩ có tác ý. Cetanā (Tư) là tâm sở có ý nghĩa quan trọng, chủ chốt nhất trong các loại tâm tại thế. Tức là, khi ở trạng thái Tâm hiệp thế, “Tư” hay sự cố ý, sự chủ tâm mới là yếu tố quan trọng quyết định một nghiệp (hành vi – Pāḷi: kamma, Eng: activity) là thiện – lành (Pāḷi:kusala, Eng: good), bất thiện – ác (Pāḷi:akusala, Eng:evil), trái lại hành vi không thiện không bất thiện (vô ký nghiệp hay duy tác nghiệp (Pāḷi: abyākatakamma) – Hành vi ý nghĩ, lời nói, việc làm của bậc Thánh vô lậu, không đưa đến kết quả sanh tử luân hồi vì không tạo tác thiện hay bất thiện, vượt lên khỏi những đối đãi nhị nguyên của thế gian được dẫn dắt bởi trí tuệ (Pāḷi: paññā, Eng: wisdom)). Nói như vậy mới thấy được tầm quan trọng của tác ý trên con đường tu tập đến như thế nào!

Đức Phật cũng từng dạy: “Này các Tỳ-kheo, Như Lai nói: Tác ý chính là giới” (Pāḷi: “Cetanāham Bhikkhave kammam vadāmi”). Thật vậy! Chánh Giới (Pāḷi: Samma Silā) trong Bát Chánh đạo (Pāḷi: Aṭṭhaṅgikāriyamaggo, Eng: Eight fold path) bao gồm Chánh ngữ (Pāḷi: Sammā vācā, Eng: Right speech), Chánh nghiệp (Pāḷi: Sammā kammantā, Eng: Right action), Chánh mạng (Pāḷi: Sammā ājīvā, Eng: Right livehood). Chánh Giới rất quan trọng, bởi đây chính là nền tảng đạo đức và kỷ luật của người Phật tử. Gọi là nền tảng, bởi không có Giới thì không có Định, không có Định cũng không có Tuệ. Không có Giới, Định, Tuệ thì không có Đạo đế. Không có Đạo đế là không có Tứ đế. Không có Tứ đế thì cũng chẳng có Đạo Phật. Ngay cả trước giờ phút nhập Niết Bàn, Đức Thế Tôn cũng đã căn dặn Ngài Ananda cùng Hội chúng Tỳ kheo về tầm quan trọng của Giới luật: “Hãy lấy Pháp và Luật này làm Thầy”. Giới quan trọng đến như vậy đó, thưa Qúy Phật tử! Theo quá trình hoại diệt của Phật giáo, ta cũng Thấy là Luật tạng và Kinh tạng sẽ bị hoại diệt trước, sau đó mới đến Giới luật. Bởi nếu Giới luật không còn thì không có vị Thầy nữa. Tu không Thầy, không sao nên đặng! Chưa hết đâu! Hằng ngày quý vị thọ trì Tam quy, Ngũ giới hay Bát quan trai giới, vị Thầy thường đọc lên: “Các chúng sanh được sinh về cõi trời cũng nhờ giữ giới, được giầu sang cũng nhờ giữ giới, được giải thoát, nhập Niết Bàn cũng nhờ giữ giới. Bởi các cớ ấy nên chư Thiện tín hãy ráng thọ trì giới luật trong sạch đừng để lấm nhơ” cũng là một cách nhắc bảo để hoàn thiện nhân cách, đạo đức, giới hạnh của chính mình đấy!

Tuy vậy, nếu xét đến ý nghĩa cùng tột của Giới, ta không được phép bỏ qua mối quan hệ tương hỗ với Định và Tuệ. Đành rằng: “Giới năng sinh Định, Định năng sinh Tuệ”, nhưng nếu coi Giới như là một điều gì đó khô cứng, tách biệt, riêng rẽ và độc lập, không liên quan gì đến Định và Tuệ thì không hợp lẽ. Giới muốn thành tựu phải do Định gia cố, do Tuệ soi sáng, chỉ đường. Về điều này, Đức Phật có dạy: “Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến sự đoạn tận hoàn toàn các lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu”. Vậy Giới – Định – Tuệ tuy ba mà một. Định, Tuệ tương trợ cho Giới và Giới bổ sung, làm cho Định, Tuệ sung mãn hơn. Trong mối quan hệ ấy, sự chủ ý, chủ tâm, cố ý hay nói theo thuật ngữ “Tư”, “Tác ý” là yếu tố có ý nghĩa chủ yếu. Có tác ý đúng (Như lý tác ý – Pāḷi: yonisomanasikāra), việc giữ giới mới trở nên đúng Pháp được. Lấy ví dụ đơn giản, Qúy Phật tử thọ trì Ngũ giới, ở đây Thầy chỉ nói về giới sát sanh. Gọi là “sát sanh” chỉ khi hội đủ 5 chi (yếu tố, điều kiện) sau đây:

1- Chúng sanh có thức tánh (Pāṇo)

2- Biết chúng sanh có thức tánh (Pāṇasaññitā)
3- Tính giết (Vadhakacittaṃ)
4- Ráng sức giết (Upakkamo)
5- Chúng sanh chết bởi sự ráng sức ấy (Tena maranaṃ)

Chi thứ 3 “Tính giết” (Vadhakacittaṃ) mới chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hành vi bất thiện – sát sanh của một chúng sanh nào đó. Cùng lẽ ấy, nếu người vô tình giết hại chúng sanh không liên hợp cùng tác ý thì không chịu quả báo do hành vi của mình đã tạo tác. Phân tích như vậy, hy vọng Qúy vị cũng đã hiểu được tầm quan trọng của tác ý liên hệ đến Chánh giới của nhà Phật!

Nói tóm lại, Chính hành, hay cụ thể nhất, rõ ràng nhất, chính Tác ý dẫn dắt chúng sanh sanh tử luân hồi.

Hành trong mối quan hệ với Nhân – Qủa thế gian, Tứ đế, Vô minh,  Tam tướng và Tam minh

Nghiệp, nếu nói đầy đủ, có ba là: Thiện nghiệp, Bất thiện nghiệp và Vô ký nghiệp (Duy tác nghiệp). Diễn ra là các hành vi thiện lành, các hành vi ác, bất thiện và các hành vi không thiện cũng không ác (Chỉ có ở các bậc Thánh vô học). Nghiệp nếu nói hai thì có nghiệp nhân và nghiệp quả hay còn gọi là Nghiệp – Báo. “Gieo nhân nào gặt quả ấy”, những hành vi tạo tác trong thế gian sẽ đưa đến những kết quả tốt – xấu trong thế gian theo định luật Nhân – Qủa. Nhân – Qủa (Pāḷi: Hetuphala, Eng: Causes and Effects) có hai, là Nhân – Qủa thế gian (Lokiya) và Nhân – Qủa xuất thế gian (Lokuttara). Liên hệ với Tứ diệu đế (Pāḷi: Catuariyasacca, Eng: The four noble truths), ta có: Khổ - Tập là Nhân – Qủa thế gian, Diệt – Đạo là Nhân – Qủa xuất thế gian.

Nói về Nhân – Qủa thế gian, mọi sự khổ đau, bất toại nguyện trong thế gian này đều có nguyên nhân từ vô minh và ái dục. Vô minh chính là cái thấy sai lầm, những quan điểm, cách nhìn nhận mang nặng tính chất thủ cựu, kém thoáng đạt, cái thấy bị bao bọc bởi vô số khái niệm, quan kiến, kinh nghiệm cũ kỹ, sai lầm (gọi là tà kiến) được tích tụ trong quá khứ, nhiều đời nhiều kiếp. Cho nên người vô minh, tà kiến là người thấy không đúng Pháp, thấy mà như không thấy, chỉ biết được sự vật, hiện tượng (pháp – Pāḷi: dhamma, Eng: things) ở bề mặt hiện tượng chứ không đi sâu vào tầng bản chất của các sự vật, hiện tượng đó. Trong triết học hiện đại có cặp phạm trù bản chất – hiện tượng và phép biện chứng khách quan có quan hệ mật thiết với cái nhìn của Phật giáo. Nói là hiện đại, nhưng đây là những điều đã được Đức Phật chỉ dạy rõ ràng cho tất cả chúng ta từ hơn 2500 năm về trước. Đó là Chân lý và Chân lý thì đúng ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh, vượt xuất hai chiều kích (Eng: dimensions) là không gian (Pāḷi: ākāsa, Eng: space) và thời gian (Pāḷi: kāla, Eng: time). Vậy đối với Pháp, đối với Chân lý, đối với Đạo Phật, không có gì là hiện đại, trung đại hay cổ đại cả! Ở phương Đông, nhiều nền văn hóa đã dựa vào cái thấy ở cả hai góc độ bản chất và cái thấy hiện tượng này mà thiết lập nên nhiều luồng tư tưởng rất đặc sắc. Trong văn học, có thể nói rằng cách diễn đạt “ý tại ngôn ngoại” (read between the lines), điểm – diện, nhất điểm – vạn điểm, một góc – ba góc, … cũng nằm trong tư duy biện chứng này. Nhà văn người Tây phương Ernest Hemingway (1899-1961) cũng đã có được cái thấy khá sâu sắc khi chính ông là người đặt nền móng cho nguyên lý tảng băng trôi (Eng: Iceberg Theory) với một phần nổi (hiện tượng) và bảy phần chìm (bản chất – đặc tính) trong ý nghĩa mà ngôn ngữ của ông chuyển tải.

Nhân – Qủa thế gian chính là những nghiệp nhân và nghiệp quả mà hàng ngày hạng phàm phu chúng ta đã và đang tạo tác, thọ nhận. Nói như vậy nghĩa là những hành vi thiện hay bất thiện của chúng sanh chỉ có thể đưa chúng sanh đó đi mãi, đi mãi, lang thang, lòng vòng trong thế gian (giới (hay Thế giới theo nghĩa rộng) – Pāḷi: loka, Eng: universe), trong vòng sanh – tử luân hồi này. Nghiệp cũng là Pháp, thiện nghiệp và bất thiện nghiệp ở đây cũng chính là Hành, cũng chính là Pháp. Pháp có ba đặc tính là (Tam tướng – Pāḷi: lakkhana, Eng: characteristics) là vô thường, khổ và vô ngã. Cho nên Nghiệp cũng vô thường, khổ và vô ngã. Do vậy, các Hành cũng chỉ là vô thường, khổ và vô ngã. Tuy vậy, nếu xét cho rốt ráo, thì bản chất của sự vật, hiện tượng chỉ là sự luôn luôn không chắc chắn, không vững bền, không thường hằng, vĩnh cửu, (vô thường – Pāḷi: aniccā, Eng: uncertain), luôn luôn biến đổi (bất định – Pāḷi: asaṇkhata, Eng: variable) và không có thực thể (entity), không thuộc về thực thể (vô ngã – Pāḷi: annatā, Eng: non-self) mà thôi. Chỉ vì cái thấy không như thật (không như thị tri kiến) mới dẫn đế sự khổ não (Pāḷi: dukkhatā, Eng: sufferring). Nói vậy, nghĩa là bản chất của Pháp, cũng là của Hành, cũng chính là của Nghiệp đều là Không (trống rỗng – Emptyness). Vâng! Đều là Không! Tức là không có gì là duy vô thường cũng không có gì là duy vô ngã. Sự vô thường và vô ngã không phải là những đặc tính tách biệt, độc lập, nó tương tác, liên quan mật thiết với nhau. Vô thường luôn song hành cùng vô ngã. Dễ hiểu hơn, một sự vật, hiện tượng khi thay đổi từ trạng thái hình thành, phát triển, suy hoại và biến hoại (vô thường) không phải bởi sự vật, hiện tượng ấy tự thân nó biến đổi, mà chính do sự biến đổi, hoại diệt từ các yếu tố, điều kiện cấu thành, tương hỗ với sự vật, hiện tượng đó, tức là không có cái gì hiện hữu như một bản ngã, một nguyên nhân ban đầu dẫn đến sự vô thường mà bản chất của vạn pháp luôn luôn là vô ngã. Vì vậy, nếu nói đến đặc tính (tướng) của vạn pháp, ta cần xét đến mối quan hệ Nhân – Duyên – Qủa, không phải ngẫu nhiên mà vạn pháp là vô thường, cũng không phải ngẫu nhiên mà vạn pháp là vô ngã.

Kinh điển Bắc phương Phật giáo có nói: “Sắc tức thị Không, Không tức thị sắc. Sắc bất dị Không, Không bất dị sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức diệt phục như thị” (Bát nhã Tâm kinh). Nghĩa là toàn bộ yếu tố Vật chất, Tinh thần của chúng ta đều mang một bản chất là Không. Vâng! Chúng trống rỗng, không có gì. Chúng sanh – diệt, có – không theo định lý Duyên khởi. Chúng chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác trong mỗi mỗi sát-na (Pāḷi: khana, Eng: moment).

Đứng trước điều này, Nhà thơ Xuân Diệu đã phải thốt lên: “Trong gặp gỡ đã nhuốm màu ly biệt”. Còn W. Shakespear thì đau đớn nhận ra: “A rose will bloom, it then will fade. So does a youth. So does the fairest maid.”Tạm dịch: Hoa kia chóng nở, rồi cũng sẽ tàn. Các bậc trai tráng. Chí nữ tinh anh. Lại đều như thế!

Ngài Ajahn Chah có nói một câu rất hay: “Sinh và tử của ta chỉ là một. Bạn không thể có cái này mà chẳng có cái kia. Người ta buồn rầu than khóc khi có ai chết, và vui cười hớn hở khi thấy một đứa trẻ sinh ra đời. Thật si mê và khôi hài làm sao! Nếu muốn khóc, hãy khóc lúc có ai sinh ra. Hãy khóc cái nguyên nhân, khóc cái gốc, vì không sinh ra thì sẽ không chết.” Ta hiểu rằng, trong cái sinh đã có cái tử, trong nguyên nhân đã mang bóng dáng của kết quả, đồng thời cũng do duyên mà sinh, do duyên mà tử. Không có gì khác! Vậy nên khi một người chết đi, đừng cho rằng người đó không còn lại gì, cũng đừng nghĩ có một linh hồn còn lại vĩnh cửu, thường hằng. Một em thiếu nhi với cùng một em bé ấy khi đã bước qua tuổi lão niên, tuy khác mà không khác, tuy một mà không một. Chết cũng chỉ là chuyển từ trạng thái này sang một trạng thái khác. Và sự chuyển đổi này cũng do duyên mà nên. Do vậy, khoa học Phương Tây mới “phát hiện lại” các định luật bảo toàn, bao gồm: Định luật bảo toàn năng lượng, Định luật bảo toàn khối lượng, Định luật bảo toàn động lượng, Định luật bảo toàn mô-men (momentum) động lượng và Định luật bảo toàn điện tích. Tất cả những định luật này được phát biểu chung:  “các đại lượng vật lý, trong hệ kín, qua các quá trình khác nhau hay tác động tương tác đều không thay đổi”. Nói theo ngôn ngữ nhà Phật, thì không có cái gì thực có, không có cái gì thực không, vì cái này có nên cái kia có, vì cái này không nên cái kia không, vì cái này sanh nên cái kia sanh, vì cái này diệt nên cái kia diệt. Cái có cũng không phải luôn có, cái không cũng không phải luôn không, sự sanh cũng không hẳn là sanh, sự diệt cũng không hẳn là diệt. “Vô thường thị thường!” Vì là vô thường nên vạn pháp đều không có thực thể, không có quan hệ sở hữu. Có được cái thấy như thế, Thiền sư Mãn Giác mới nói: “Mạc vị xuân tàn, hoa lạc tận/ Đình tiền tạc dạ, nhất chi mai”. Bởi lẽ cái mất mà không mất, cái còn mà không còn, nên vạn pháp mới là bất sanh bất diệt vậy! Điều này, Đạo Phật đã giác ngộ từ lâu lắm, không phải đợi đến khoa học hiện đại mới phát biểu một cách mơ hồ!

Vậy làm thế nào để hết khổ? Rất đơn giản, chỉ một cái thấy đúng Pháp, cái thấy của Trí huệ - Huệ nhãn, cái thấy Pháp – Pháp nhãn đã có thể chấm dứt mọi nguyên nhân của sự khổ, đưa đến chấm dứt mọi khổ ách, thành tựu Đạo – Qủa (Magga – Phala), Giải thoát hương và Giải thoát tri kiến hương rồi.

Đơn giản nhưng lại không đơn giản! Phật, như chúng ta đã biết, là Bậc giác ngộ, và giác ngộ ở đây là giác ngộ Chân lý – Pháp. Chân lý hay Sự thật này chính là Nhân – Qủa. Nhân – Qủa cũng chính là Tứ đế. Theo sự nghiên cứu của nhiều học giả Tây phương, Đức Phật không phải ai khác ngoài một Nhà khoa học chân chính (Scientist), nhưng Đức Phật lại là Nhà khoa học của mọi ngành khoa học. Nói vậy tức là điều Đức Phật giác ngộ có ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực khoa học – xã hội, không phân biệt quốc gia, đảng phái, đẳng cấp xã hội, tôn giáo – tín ngưỡng, khía cạnh, ngành nghề, …. Thật vậy, không ai có thể phủ nhận được định luật Nhân – Qủa, dù đó là nhân vật nào, tổ chức nào, hay hình tượng nào có quyền lực đến nhường nào đi nữa. Bởi đó là chân lý!

Trong đêm thành đạo của Đức Bồ Tát, bản thân Ngài đã chứng đắc được ba kiến thức xuất thế cao siêu (Tam minh – Pāḷi: Te vijjā, Eng: science, knowledge). Tam minh gồm có Túc mạng minh (Pāḷi: pubbe nivāsānussati ñāna, Eng: remembrance of former existences), Sanh tử minh (Pāḷi: dibba-cakkhu ñāna, Eng: divine eye) và Lậu tận minh (Pāḷi: āsavakkhaya ñāna, Eng: extinction of all cankers). Dễ hiểu hơn, Đức Bồ Tát đã có được cái thấy biết tận tường trong vô lượng kiếp sống quá khứ của chính mình và của chúng sanh khác, chịu thọ mạng, địa vị, giai cấp, giàu – nghèo, sang – hèn, trí – ngu đều do những nghiệp thiện hay bất thiện đã tạo tác, đồng thời có được trí tuệ đoạn tận mọi nguyên nhân gây ra đau khổ, sanh tử luân hồi là vô minh và ái dục. Người Tây phương rất tinh tế, họ dịch chữ Minh là “science”, nghĩa là khoa học. Vâng! Chính Đức Phật giác ngộ (enlightened), đã khám phá ra (discovered) một định luật, một sự thật khoa học hoàn toàn khách quan vượt lên mọi định luật, mọi sự thật khác!

Liên hệ với Tứ đế, Túc mạng minh và Sanh tử minh liên quan đến Khổ và Tập. Với cái thấy này, ta biết rằng trong vô lượng kiếp quá khứ, chính chúng ta, tùy thuộc những thiện nghiệp, bất thiện nghiệp đã tạo tác, mà phải thọ nhận những điều thiện lành hay điều tai hại trong kiếp vị lai hay ngay trong kiếp đó. Người tu theo Phật để thấy được sự khổ, thấy được nguyên nhân do đâu mà có sự khổ. Không dừng lại ở đó, Lậu tân minh liên quan đến Diệt và Đạo. Phật chính là người đã chứng ngộ được sự đoạn tận đau khổ nhờ tự thân Ngài thực hành con đường cao thượng đưa đến sự diệt khổ. Vậy Phật giáo, một mặt nhìn nhận bản chất khổ đau của cuộc đời, mặt khác lại chỉ dẫn và khẳng định con đường vượt thoát khổ đau đó cho cuộc đời. Ôi! Qủa thật, Phật giáo đã cống hiến cho cuộc đời này một sự thật quá đỗi lớn lao và cao thượng. Sự thật của mọi sự thật!

Trong mọi phân tích, diễn giải như đã trình bảy ở trên, bản chất của các Hành đều mang ba đặc tính là vô thường, khổ và vô ngã. Nói rộng ra các Pháp đều có tính chất vô thường, vô ngã. Tuy vậy đặc tính của Pháp không nằm ở sự vô thường, vô ngã đó, mà chính là ở thực tướng bất sanh, bất diệt, tánh Không, rổng rang, không tướng, giả hợp. Vậy, muốn vượt thoát mọi sự khổ đau, đoạn tận vòng sanh – tử, tử - sanh triền miên đằng đẵng này thì chỉ còn một con đường duy nhất: con đường thấy Pháp

Nhân quả xuất thế gian, Sự an vui tuyệt đối

“Chỉ có Niết-bàn là pháp Tịch diệt, dứt cả pháp Hữu vi ấy được, mới có sự an vui tuyệt đối.” Vâng! Niết Bàn tối lạc (Pāḷi: Nibbānam paramam sukham). Bản chất của thế gian là đau khổ, bất toại nguyện và triền phược. Nhưng ta đi đâu để thoát khỏi những đau khổ, phiền muộn này đây?

Sự sống và cái chết, đau khổ và phiền não nằm trong chính ta thì sự chấm dứt của đau khổ cũng nằm trong chính thân ngũ uẩn này mà thôi. Nói vậy nghĩa là trong tự thân và tâm này đã có sẵn đáp số cho mọi sự khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, sự đoạn tận khổ đau và con đường đưa đến sự đoạn tận khổ đau rồi. Ta không cần tầm cầu bất kỳ ai, không cần van xin, cầu khẩn ai tiếp dẫn, đưa, rước ta đi đâu cả. Sự khổ đau bắt nguồn từ đâu thì hãy chấm dứt sự khổ đau ngay tại nơi ấy! Vậy hãy quay trở lại quán xét Thân – Tâm của ta trong sự thật tuyệt đối – Chân đế! Nói chúng ta phải “vượt thoát thế gian, chấm dứt đau khổ”, nhưng cần phải hiểu câu nói này cùng với trí huệ. Tức là cần phải dựa vào thế gian – Ngũ uẩn để vượt lên thế gian – chứng đạt vô vi nhờ vào pháp hữu vi! Thiền sư Nhất Hạnh có nói: “No mud, no lotus”. Qủa vậy! Không bùn, cũng chẳng có hoa sen!

Quay trở lại với chính mình tức là “quán chiếu ngũ uẩn giai không”, xem xét, nhìn nhận các pháp hữu vi trong chính Thân và Tâm này với tính chất biến đổi, hoại diệt qua từng sát na, từ đó nhận thấy rằng các pháp là vô thường và vô ngã. Chỉ có hai tính chất này, không hề có một thực thể bất biến, thường hằng, vĩnh cửu nào.

Có thể nói, với bài kinh này, Đức Thế Tôn đã tóm gọn toàn bộ Giáo Pháp của Ngài, rằng: Các hành là vô thường, khổ và vô ngã, chỉ có con đường vượt xuất thế gian, nhìn nhận vạn pháp đúng với bản chất của nó thì mới đưa đến Niết bàn là nơi an vui tuyệt đối. Điều này đã được tuyên thuyết trong suốt 45 thuyết pháp của Người. Đức Phật cũng từng dạy rằng: Chư hành vô thường/ Chư hành khổ não/ Chư pháp vô ngã - “Sabbe saṇkhārā annicca/ Sabbe saṇkhārā dukkhatā/ Sabbe dhammā anattā.” Trong bài kinh Đại niệm xứ (Mahāsatipatthāna sutta) …………………………………………………………………………………..

Niết bàn – sự an vui tuyệt đối tương đương với Diệt đế (Pāḷi: Dukkha nirodha ariya sacca) trong Tứ diệu đế cũng chính là Vô vi pháp nằm trong chữ Pháp như đã nói từ đầu. Trong Tứ diệu đế, Nhân – Qủa xuất thế gian gồm có Diệt đế là quả và Đạo đế là nhân. Liên hệ với Tam Minh, ta thấy, Trí tuệ đoạn tận các lậu hoặc chính là việc thực hành Đạo đế để chứng ngộ Diệt đế. Niết bàn chỉ được thấu rõ với con mắt trí huệ, con mắt pháp. Một khi minh sanh (Pāḷi: vijjā udapādi) thì vô minh diệt, ánh sáng sanh (Pāḷi: āloko udapādi) – bóng tối diệt, pháp nhãn sanh (Pāḷi: dhammesu cakkhu udapādi), trí sanh (Pāḷi: ñāna udapādi), tuệ sanh (Pāḷi: paññā udapādi) thì mọi đau khổ thế gian được rũ bỏ. Tâm đạt đến trạng thái an vui tối thượng, không một cảm thọ nào có thể so sánh bằng. Vô vi pháp là pháp không chịu sự tác động của định luật vô thường, do vậy sự an vui ở đây được coi là vĩnh cửu, tuyệt đối, không mang bản chất đau khổ của thế gian.

Vậy, có thể nói, bài kinh cầu siêu này không mang ý nghĩa cầu khẩn cho người đã chết được siêu sanh về một cảnh giới an nhàn nào đó mà, trái lại, chính là sự nhắc bảo chúng ta hay tự siêu độ cho chính bản thân mình khi còn sống trên thế gian này. Thay vì đau thương chia lìa, tiễn biệt thân bằng, quyến thuộc trong cảnh tang tóc, hãy xem đó là một cơ hội, một sự động tâm, nhắc bảo chúng ta tinh tấn trên con đường tu tập, quyết một lòng giải thoát khỏi bề khổ trần ai, bởi “Các hành là vô thường” nếu không mau mau dõng mãnh tiến bước trên đạo lộ giải thoát thì e là không kịp, hiểu nghĩa kinh như vậy mới mang lại nhiều lợi ích cho Qúy Phật tử. Mong lắm thay!

 
Toggle bottom modules

Thành Viên Website



Độc giả truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay145
mod_vvisit_counterHôm qua503
mod_vvisit_counterTuần này145
mod_vvisit_counterTuần trước2803
mod_vvisit_counterTháng này9066
mod_vvisit_counterTháng trước21487
mod_vvisit_counterTổng cộng2522415

We have: 40 guests, 2 bots online
Your IP: 35.175.248.25
 , 
Hôm nay: 27-Tháng 5-2019

Khảo Sát Phật Tử

Bạn có đi chùa thường xuyên không ?
 

Thông Báo Website

Namo Buddhaya !

Website này đang trong thời gian thử nghiệm.

Rất mong nhận được sự góp ý của quý độc giả xa gần!