Tưởng niệm lần thứ 8 cố Hòa thượng Thiền sư Bửu Hạnh viên tịch
Toogle template customization
Toggle top modules
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
PHATGIAOHOC.COM Tin Tức Tưởng niệm lần thứ 8 cố Hòa thượng Thiền sư Bửu Hạnh viên tịch
Tưởng niệm lần thứ 8 cố Hòa thượng Thiền sư Bửu Hạnh viên tịch PDF. In Email
Viết bởi internet   
Thứ sáu, 08 Tháng 7 2011 14:57

Tưởng niệm lần thứ 8 cố Hòa thượng Thiền sư Bửu Hạnh viên tịch

Sáng ngày thứ bảy 28 tháng 5 năm 2011 (nhằm 26 tháng 4 năm Tân Mão), tại tổ đình Bửu Quang, môn đồ Pháp quyến  long trọng cử hành lễ tưởng niệm lần thứ 8 cố Hòa thượng Thiền sư Bửu Hạnh viên tịch. Sinh tiền, Hòa thượng có nhiều đóng góp cho Phật giáo Nguyên Thủy từ lúc Cư sỹ cho đến lúc xuất gia, Ngài lập 2 ngôi chùa, Thiền đường Phật Quang- Tỉnh Bà Rịa, Chùa Bửu Hạnh- Tp. HCM. Tiếp độ nhiều đệ tử xuất gia, nay là trụ trì các chùa Phật giáo Nguyên Thủy, như Đại đức Pháp Nhiên- Trụ trì chùa Siêu Lý, Đại đức Tuệ Quyền- Trụ trì chùa Quảng Nghiêm, Đại đức Pháp Tân - trụ trì chùa Thái Hòa v.v… Đồng thời, ngài tiếp độ rất nhiều Phật tử quy y Tam bảo theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy.

Đến chứng minh buổi lễ, có sự tham dự của Trưởng lão Bửu Căn, Thượng tọa Thiện Phúc, TT. Chánh Định, TT Thiện Minh, TT Thiện Đạt, TT Phước Lượng v.v. Có đông đủ môn đồ Pháp quyến của Hòa thượng, những người xuất gia cũng như tại gia. Buổi lễ diễn ra tuy đơn giản những rất tôn nghiêm và thành tựu phước báu. Đại Đức Pháp Tân đại diện môn đồ pháp quyến tuyên đọc đôi dòng tiểu sử của Cố hòa thượng. Buổi lễ kết thúc lúc 12h cùng ngày trong niềm hoan hỷ của Tứ chúng.

TIỂU SỬ CỐ HOÀ THƯỢNG THIỀN SƯ BỬU HẠNH

Tỳ khưu Thiện Minh phụng soạn

Hoà Thượng  Thiền sư Bửu  Hạnh, thế danh Nguyễn Văn Núi, sanh năm 1912 tại xã Long Hương, thị xã Bà Rịa Vũng Tàu. Sanh ra và lớn lên trong gia đình Nho giáo.  Con của cụ ông Nguyễn Văn Tình và cụ bà Đặng thị Lang. Ngài là con thứ tám trong gia đình có mười  anh  chị em.

Thuở thiếu  niên, ngài là thanh niên cần cù siêng trong việc học, thiếu thảo với cha mẹ, thương kính và tôn trọng  anh chị em trong gia đình. Là con thứ tám trong gia đình nên ngài được cha mẹ và anh chị em thương yêu, nhưng không vì thế mà Ngài thiếu bổn phận trong gia đình và luôn luôn lúc nào Ngài cũng tỏ ra là nguời con có hiếu thảo với cha mẹ, kính yêu anh chị em và siêng năng trong công việc đã giao phó. Nhờ đức tánh khiêm tốn, cầu tiến và hiếu học nên Ngài đã thi đậu bằng cấp Diploma. Sau thi thi đậu, đầu tiên Ngài làm kế toán cho Nhà Hàng Tây và sau đó là Kế toán và thủ quỷ Bưu Điện Sài Gòn (nay là Bưu điện TP. HCM).

Năm 1924, thuận theo dòng đời, cha mẹ lập gia đình cho Ngài với một cô thiếu nữ trẻ đẹp hiền lương đức hạnh ở Sa Đéc tên là Huỳnh Thị Trọng. Tình yêu hôn nhân mang đến họ 9 người con. Gia đình sống  vô cùng hạnh phúc. Với đồng lương thời đó, Ngài nuôi các con ăn học nên người, hữu dụng cho xã hội.

Năm 1938, Phật giáo Nguyên thuỷ du nhập Việt nam do phái đoàn hoằng pháp của Hoà Thượng Hộ tông, Ngài là một trong 15 thiện nam đầu tiên Quy y Tam Bảo và Hộ trì Phật giáo Nguyên thuỷ. Từ khi Quy y, ban ngày làm việc công chức, ban đêm, đặc biệt là cuối tuần, Ngài lên Tổ Đình Bửu Quang để học đạo và hành thiền với các vị trưởng lão trong phái đoàn hoằng pháp của hoà thượng Hộ Tông. Càng tu thiền nhập định, ngài cảm nghiệm được nhiệm mầu của Giáo Pháp, muốn phát triển thêm thì phải ly gia cắt ái. Ngài chiêm nghiệm cuộc đời: đối với gia đình, ngài đã thể hiện đầy đủ, đối với xã hội đã viên tròn nhiệm vụ.

Mùa xuân năm 1972, ngài  từ  giả hiền thê và các con để bắt đầu cuộc hành trình tha phương cầu đạo giải thoát, xuất gia sống cuộc đời vô gia cư. Trước lúc xuất gia, lời than, tiếng khóc cảm động của hiền thê và các con làm ngài cũng đau xót và ngẹn ngào, ngài khuyên với gia đình là xuất gia để thực hành con đường giác ngộ của đức Phật thích Ca để lại, con đường đó là Phật đánh đổi cả ngai vàng, cung son, điện ngọc, nên hiền thê và các con đừng buồn, hãy ủng hộ công trình tu tập này. Ngài đến chùa Phổ Minh xuất gia với Hoà Thượng Bửu Chơn, Hoà thượng tế độ ban cho pháp danh là Sa Di Bửu Hạnh. Trong những năm tháng sống với hoà thượng Bửu Chơn, Sa di Bửu Hạnh chuyên cần học kinh, giữ giới và hành đạo. Tuy thời gian ngắn ngủi sống với hoà thượng bổn sư , Sa di Bửu Hạnh để lại trong lòng của hoà thượng tế độ một niềm thương mến vô biên  bằng đức hạnh chuyên tâm học đạo.

Ngày 15 tháng 7 năm 1973, được sự cho phép của Hoà thượng tế độ, Sa di Bửu Hạnh được thọ đại Giới với Hoà Thượng Hộ Tông và thầy yết Ma là thượng toạ Duyên Hạnh, Hoà thượng ban cho pháp danh là Tỳ Khưu Tịnh Tâm (Cittasuddho Bhikkhu). Pháp danh thật đúng với con người và đức hạnh của Ngài. Năm năm sống với thầy tế độ để học pháp và luật, trao giồi Giới Định Tuệ. Một hôm thầy tế độ gọi vào để dạy: Này con! bây giờ con có thể xa thầy để đi hành đạo và hoằng pháp.

Thế là năm  1979 đến 1985, khắp các nẽo đường ở Miền Đông Nam bộ, chúng ta đều trông  thấy mỗi buổi sáng có một vị sa môn ôm bát trì bình khất thực, trước là để nuôi mạng, sau là tế độ chúng sanh. Sự hiện diện của ngài như vậy làm cho đồng bào phật tử việt nam phát tâm tín thành nơi Tam bảo, tu theo truyền thống phật giáo nguyên thuỷ. Trong thời gian này, chùa Phước Hải (Vũng tàu) và Nguyên Thuỷ Tự (Cát Lái) là nơi Ngài dừng chân trong những  năm tháng nhập hạ.

Năm 1985, do thỉnh cầu của Giáo Hội và phật tử, ngài về Tổ Đình Bửu Quang để hoằng pháp và dạy thiền. Nhận thấy Tổ đình đã ổn định, ngài xin phép Giáo Hội ẩn cư thiền định ở Tịnh Thất Cây Mít Nài theo hạnh đầu đà của Hoà Thượng Pháp Minh và Hoà thượng Giới Hương. Tại đây Ngài tế độ cho rất nhiều Chư tăng, Tu nữ  và Cư sĩ tu theo truyền thống Phật giáo Nguyên thuỷ.

Năm 1993, do  nhu cầu đệ tử càng ngày càng đông, Ngài thành lập thêm Thiền Viện Phật Quang nơi quê hương của Ngài để tạo điều kiện cho Tứ chúng hành đạo. Núi rừng Phật Quang ở đây thật xứng với những ai chọn đời sống viễn ly thanh tịnh. Thời điểm này lập thêm thiền viện là một nhu cầu nhiêu khê, thế mà ngài đã thực hiện được, đây là một công trình hiếm có trong lịch sử của Phật giáo Nguyên thuỷ.

Do tuổi cao sức yếu và bịnh duyên, Ngài đã thu thần viên tịch vào lúc19h40 phút, ngày 26 tháng 5 năm 2003 (Nhằm ngày 26 tháng 4 năm Quý mùi)  tại Giảng Đường Siêu Lý, hưởng thọ 92 tuổi, 31 hạ lạp.

Sự nghìn thu vĩnh biệt của  Hoà Thượng thiền Sư Bửu Hạnh là một sự mất mác to lớn cho Phật giáo Nguyên Thuỷ Việt Nam nói chung và Môn đồ Pháp quyến nói riêng. Giáo hội Mãi mãi mất đi một vị thiền sư đức độ, không bao giờ tìm lại được; môn đồ pháp quyến mất đi một bậc thầy vị đại.

NAM MÔ PHẬT, NAM MÔ PHÁP, NAM MÔ TĂNG


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 08 Tháng 7 2011 15:04
 
Toggle bottom modules

Thành Viên Website



Độc giả truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay407
mod_vvisit_counterHôm qua503
mod_vvisit_counterTuần này407
mod_vvisit_counterTuần trước2803
mod_vvisit_counterTháng này9328
mod_vvisit_counterTháng trước21487
mod_vvisit_counterTổng cộng2522677

We have: 107 guests, 3 bots online
Your IP: 52.23.234.7
 , 
Hôm nay: 27-Tháng 5-2019

Khảo Sát Phật Tử

Bạn có đi chùa thường xuyên không ?
 

Thông Báo Website

Namo Buddhaya !

Website này đang trong thời gian thử nghiệm.

Rất mong nhận được sự góp ý của quý độc giả xa gần!