Tìm hiểu về công đức Niệm Phật
Toogle template customization
Toggle top modules
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
PHATGIAOHOC.COM Học Phật Tìm hiểu về công đức Niệm Phật
Tìm hiểu về công đức Niệm Phật PDF. In Email
Viết bởi internet   
Thứ sáu, 22 Tháng 7 2011 08:09

- "Niệm Phật là pháp tu hiệu nghiệm đặc biệt không ngờ để giải trừ những ác nghiệp. Trong khi niệm Phật những bất thiện nghiệp của chúng ta sẽ tiêu tan dần theo năm tháng. Niệm Phật là pháp tu phổ thông để tội diệt phước sanh, là phương pháp rất mạnh mẽ để hóa giải những chướng ngại gây ra phiền não khổ đau cho chúng ta trong đời sống này." Lillion Too

- Tại Vương Xá, Ambalatthika, Nalanda v.v. . . Thế Tôn nhấn mạnh và nhắc đi nhắc lại nhiều lần ba pháp Vô lậu học Giới, Định, Tuệ mà tất cả đệ tử Phật cần phải hành trì: “Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các lậu hoặc, tức là Dục lậu, Hữu lậu, Vô minh lậu”. (Kinh Đại Bát-niết-bàn, tr. 84).

Tiếng Pali là ngôn ngữ chung của chư Phật trong quá khứ, Ðức Phật hiện tại và chư Phật trong vị lai. Tiếng Pali có nguồn gốc từ ngôn ngữ Māgadha là ngôn ngữ phổ thông của chư thiên trong các cõi trời dục giới, và phạm thiên trong các cõi trời sắc giới nữa. Các ngôn ngữ khác của con người trong đời, chỉ có thể tồn tại một thời gian lâu hoặc mau, tùy theo sự tồn tại của dân tộc ấy. Nếu dân tộc ấy bị tiêu diệt rồi, thì thứ ngôn ngữ ấy sẽ mai một theo thời gian. 

Mỗi kiếp trái đất trải qua 4 a tăng kỳ: thành -- trụ -- hoại -- không, có khi trải qua vô số kiếp trái đất như vậy không sao kể siết, mà vẫn không có một Ðức Phật nào xuất hiện trên thế gian gọi là Suññakappa: kiếp trái đất không có Ðức Phật. Vậy mà, khi một kiếp trái đất nào có Ðức Phật xuất hiện trên thế gian, thời đại ấy có tiếng Māghadha, Ðức Phật thuyết pháp tế độ chúng sinh bằng tiếng Pali, chắc chắn không phải một thứ tiếng nào khác. Ðặc biệt ngôn ngữ Pali, nếu người nào học hiểu biết rõ, ghi nhớ rõ pháp học Phật giáo bằng ngôn ngữ Pali được chừng nào thì tâm trí của người ấy tích lũy được chừng ấy, dầu phải trải qua bao nhiêu số kiếp trong vòng tử sanh luân hồi, cũng không bao giờ mất đi một tiếng nào. Bởi vì tiếng Pali vốn là mūlabhāsā: ngôn ngữ gốc, sabhāvabhāsā: ngôn ngữ diễn tả hiểu được thực tánh của các pháp, v.v

Kiếp trái đất mà chúng ta đang sống, gọi là Bhaddhakappa có nhiều diễm phúc nhất, bởi vì có đến 5 Ðức Phật xuất hiện tuần tự, trải qua một chu kỳ thời gian rất lâu dài.

1. Ðức Phật Kakusandha, trong quá khứ, đã xuất hiện trên thế gian, vào thời đại con người có tuổi thọ 40.000 năm.

2. Ðức Phật Koṇāgamana, trong quá khứ, đã xuất hiện trên thế gian, vào thời đại con người có tuổi thọ 30.000 năm.

3. Ðức Phật Kassapa, trong quá khứ, đã xuất hiện trên thế gian, vào thời đại con người có tuổi thọ 20.000 năm

4. Ðức Phật Gotama, đang hiện tại, đã xuất hiện trên thế gian vào thời đại con người có tuổi thọ 100 năm. Hiện nay, Ðức Phật đã tịch diệt Niết Bàn, song giáo pháp của Ngài vẫn còn lưu truyền trên thế gian này đến 5.000 năm sau rồi sẽ bị tiêu diệt

5. Ðức Phật Metteyya, trong vị lai, sẽ xuất hiện trên thế gian, vào thời đại con người có tuổi thọ 80.000 năm.

Từ một Ðức Phật này đến một Ðức Phật kia, trải qua một chu kỳ thời gian rất lâu dài. Ví dụ: Ðức Phật Gotama (Cồ Đàm - Thích Ca) xuất hiện trên thế gian, vào thời đại con người có tuổi thọ khoảng 100 năm. Từ 100 năm, tuổi thọ con người theo thời gian giảm dần giảm dần xuống còn 10 năm, rồi từ 10 năm, tuổi thọ con người lại tăng dần tăng dần đến tột cùng a tăng kỳ năm (asaṅkheyya: tính theo số học: số 1 đứng đầu 140 số không (0) đứng sau, viết tắt 10140). Từ a tăng kỳ năm, tuổi thọ con người giảm dần giảm dần đến thời đại con người có tuổi thọ khoảng 80.000 năm, khi ấy Ðức Phật Metteyya (Phật Di Lặc) sẽ xuất hiện trên thế gian cũng trong kiếp trái đất này.

Như vậy, từ một Ðức Phật này cho đến một Ðức Phật kia cùng chung trong một trái đất, mà phải trải qua thời gian lâu dài không thể tính bằng số được. Cho nên, trong vòng tử sanh luân hồi của mỗi chúng sinh, kiếp nào có diễm phúc gặp được Ðức Phật hoặc giáo pháp của Ngài, thì thật là cơ hội tốt, vô cùng hi hữu, một dịp may mắn rất hiếm có. Vậy, chúng ta nên cố gắng theo học cho được tiếng Pali, lời giáo huấn của Ðức Phật, dầu không thuộc lòng được trọn bộ Tam tạng, Chú giải, thì ít ra chúng ta cũng phải thuộc lòng cho được câu cung kính lễ bái Ðức Thế Tôn mà chư Vua Trời đã thường cung kính đảnh lễ:

"Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammā-sambuddhassa". (3lần)

(Ná-mô tás-xá Phá-gá-va-tô   Á-rá-há-tô    Xăm-ma-xăm-bút-đờhás-xá)

Nghĩa: Con đem hết lòng thành kính làm lễ Ðức Phá gá va đó, Ngài là bậc Á rá hăng cao thượng, được chứng quả Chánh biến Tri, do Ngài tư ngộ, không thầy chỉ dạy.


Tam Quy:

- Buddham saranam gacchàmi.
- Dhammam saranam gacchàmi.
- Samgham saranam gacchàmi.

(Bút-đờhăng xá-rá-năng gắch-chxa-mí)

(Đờhăm-măng xá-rá-năng gắch-chxa-mí)

(Xăng-gờhăng xá-rá-năng gắch-chxa-mí).


Nghĩa: Con đem hết lòng thành kính xin quy y Phật.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Pháp.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Tăng.


- Dutiyampi Buddham saranam gacchàmi.
- Dutiyampi Dhammam saranam gacchàmi.
- Dutiyampi Samgham saranam gacchàmi.

(Đú-tí-giăm-pí Bút-đờhăng xá-rá-năng gắch-chxa-mí)

(Đú-tí-giăm-pí Đờhăm-măng xá-rá-năng gắch-chxa-mí)

(Đú-tí-giăm-pí Xăng-gờhăng xá-rá-năng gắch-chxa-mí)

Nghĩa: Con đem hết lòng thành kính xin quy y Phật, lần thứ nhì.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Pháp, lần thứ nhì.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Tăng, lần thứ nhì.


- Tatiyampi Buddham saranam gacchàmi.
- Tatiyampi Dhammam saranam gacchàmi.
- Tatiyampi Samgham saranam gacchàmi.

(Tá-tí-giăm-pí Bút-đờhăng xá-rá-năng gắch-chxa-mí)

(Tá-tí-giăm-pí Đờhăm-măng xá-rá-năng gắch-chxa-mí)

(Tá-tí-giăm-pí Xăng-gờhăng xá-rá-năng gắch-chxa-mí)

Nghĩa:   Con đem hết lòng thành kính xin quy y Phật, lần thứ ba.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Pháp, lần thứ ba.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Tăng, lần thứ ba.

Quy y có hai:
- Nương nhờ nơi không chân chính.(tà quy)
- Nương nhờ nơi chân chính.(chánh quy)

Nương nhờ nơi không chân chính
Đức Phật dạy, phần đông người ta tìm đến nơi núi cao, rừng sâu, cây cổ thụ, vườn (bụi cây) rậm, đền tháp... để nương nhờ. Đó là những nơi nương nhờ không chân chính, bởi vì, những nơi ấy không phải là nơi nương nhờ an lành, không phải là nơi nương nhờ cao thượng. Những người đến nương nhờ những nơi ấy không thể giải thoát mọi cảnh khổ.

Nương nhờ nơi chân chính
Đức Phật dạy rằng những người tìm đến nương nhờ nơi Tam Bảo là nơi nương nhờ chân chính, bởi vì, những người nương nhờ nơi Tam Bảo sẽ dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ Diệu Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo - 4 Thánh Quả và Niết Bàn. Đó chính là nơi nương nhờ an lành, nơi nương nhờ cao thượng. Những bậc Thánh nhân đã đến quy y Tam Bảo như vậy, mới giải thoát mọi cảnh khổ tử sinh luân hồi trong tam giới.

Ân Đức Phật:

Itipi so Bhagavà Araham / Sammàsambuddho / Vijjàcaranasampanno /
( Í-tí-pí-xô Phá-gá-va /Á-rá-hăng / Xăm-ma-xăm-but-đờhô / Vít-za-chá-rá-ná-xăm-păn-nô

Sugato / Lokavidù / Anuttaro purisadammasàrathi /
Xú-gá-tô / Lô-ká-ví-đu / Á-nút-tá-rô / Pú-rí-xá-đăm-má-xa-rá-thí /

Satthàdevamanussànam / Buddho / Bhagavàti
Xách-tha-đê-vá-má-nús-xa-năng / Bút-đờhô / Phá-gá-va-ti )

Ân Đức Phật: Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế Tôn-- Chín ân đức nầy chỉ có nơi Ðức Phật. Ngoài Ðức Phật ra, không có một Sa môn, Bà la môn, Chư thiên, Phạm thiên nào có thể có đủ những ân đức nầy. Chín ân đức nầy không phải do nhân vật nào trong cõi trời và người tự ý xưng tán để diễn tả lòng kính phục và biết ơn của họ đối với Phật. Chín ân đức nầy tự phát khởi lên đến chư Phật ở quá khứ, hiện tại, và vị lai cùng lúc với Trí tuệ hoàn toàn sáng suốt thông hiểu các pháp không dư sót khi các Ngài vừa thành đạo dưới cội bồ đề. Chín danh hiệu nầy đã được Ðức Phật khẳng định là danh hiệu của Ngài khi Ngài giảng pháp cho chư thiên và loài người.

Tóm Tắt về 3 ân đức của PHẬT: TRÍ ĐỨC, BI ÐỨC VÀ TỊNH ĐỨC

1.Trí Ðức (Panna guna): Ngài có trí tuệ hoàn toàn sáng suốt, không có chi che án được, thông suốt cả ba giới, bốn loài, thấu triệt Tứ Ðế; thấy rỏ, biết rõ ái dục phiền não; nguyên nhân sinh ra ái dục phiền não; nơi diệt tận ái dục phiền não và phương pháp diệt trừ ái dục phiền não. Do nhờ trí tuệ hoàn toàn nên Ngài tri tỏ nghiệp nào có sự lợi ích, nghiệp nào có sự nguy hại hầu tìm phương tiện giáo huấn chúng sanh xa lánh các điều ác, làm những việc lành để sớm đến bờ giác ngộ. Theo ý nghĩa nầy, Ân đức Sammasambuddho (Chánh Biến Tri), Vijjacaranasampanna (Minh Hạnh Túc), Lokavidu (Thế gian giải) thuộc về Trí Ðức.

2. Bi Ðức (Karuna guna): Ngài thấy chúng sanh đang bị nóng nãy lăn lộn trong lửa ngũ dục, đang chìm đắm chơi vơi trong biển trần ai, chịu thống khổ vô cùng vô tận từ đời nầy qua kiếp khác nên Ngài phát tâm bi mẫn bao la đối với tất cả chúng sanh, chẳng khác nào người mẹ hiền thương xót đàn con dại, mong mỏi cho con khỏi khổ, được vui lâu dài. Từ khi còn tu hạnh Bồ tát, Ngài đã từng hy sinh thân mang, vợ con, của cải để tìm phương cứu vớt chúng sanh; đến khi thành đạo rồi, Ngài chu du phổ độ chúng sanh không ngừng nghĩ trong 45 năm trường đằng đẳng. Theo ý nghĩa nầy, Ân đức Anuttaro Purisadammasarathi (Vô thượng sĩ điều ngự trượng phu), Satthadevanamussanam (Thiên nhân sư), Buddho (Phật), Bhagava (Thế Tôn) thuộc về Bi Ðức.

3. Tịnh Ðức (Visuddhi guna): Ngài đã xa lìa tất cả phiền não thô sơ và vi tế, nên thân khẩu ý của Ngài đều được trọn lành. Trước mặt người hoặc nơi khuất lấp, Ngài cũng không hề làm, nói và tưởng điều tội lỗi. Theo ý nghĩa nầy, Ân đức Araham (Ứng cúng) và Sugato (Thiện Thệ) thuộc về Tịnh Ðức.

Niệm ân đức Phật là một loại thiền định hay thiền chỉ (Samatha). Không niệm quá nhanh hoặc quá chậm và luôn cố gắng quán tưởng đến ý nghĩa của mỗi ân đức. Việc niệm ân đức Phật sẽ làm cho những tâm tham lam, sân hận, và si mê không thể khởi lên được. Niệm ân đức Phật bằng tiếng Pali, không thể thay thế một thứ tiếng nào khác, vì làm như thế sẽ mất đi tính chất nguyên bản, không còn thiêng liêng, giảm bớt oai lực của ân đức Phật. Pali là một thứ tiếng phổ thông của chư Phật, chư thiên, phạm thiên, còn những thứ tiếng khác như tiếng Việt, tiếng Anh chỉ là phương tiện để hiểu rõ ý nghĩa lời giáo huấn của Ðức Phật mà thôi. 

Người Phật tử thường niệm tưởng đến Ân Ðức Phật, sẽ phát sanh đức tin trong sạch nơi Ðức Thế Tôn, có trí tuệ sáng suốt, phát sanh hỉ lạc, tăng trưởng lòng tôn kính nơi Ðức Thế Tôn, có lòng dũng cảm, tránh khỏi mọi điều tai hoạ, phước thiện được tăng trưởng. Cho nên, khi gần chết, tâm của hành giả không mê muội. Trái lại, tâm rất bình tĩnh và sáng suốt. Vì vậy, sau khi chết, nếu dục giới thiện nghiệp này cho quả tái sanh làm người, thì sẽ là người có trí tuệ. Nếu hành giả không đạt Thánh Ðạo và Thánh Quả trong kiếp sống nầy, vị ấy cũng được tái sinh cõi thiện giới. Nếu tái sinh làm người sẽ là người có trí tuệ, có sắc thân xinh đẹp đáng ngưỡng mộ, các bộ phận trong thân thể đều xinh đẹp đáng yêu quý như :
Thân có hương thơm - Miệng có mùi hương tỏa ra - Có nhiều trí tuệ  - Có trí tuệ sâu sắc - Có trí tuệ sắc bén - Có trí tuệ nhanh nhẹn - Có trí tuệ phong phú - Có trí tuệ phi thường - Nói lời hay, có lợi ích-  Có địa vị cao quý. Nếu tái sinh làm chư thiên, sẽ là chư thiên nam hoặc thiên nữ có nhiều oai lực, hưởng được sự an lạc đặc biệt hơn các chư thiên khác.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 
Toggle bottom modules

Thành Viên Website



Độc giả truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay353
mod_vvisit_counterHôm qua263
mod_vvisit_counterTuần này2031
mod_vvisit_counterTuần trước3330
mod_vvisit_counterTháng này12911
mod_vvisit_counterTháng trước6643
mod_vvisit_counterTổng cộng2489029

We have: 82 guests, 1 bots online
Your IP: 54.242.115.55
 , 
Hôm nay: 24-Tháng 3-2019

Khảo Sát Phật Tử

Bạn có đi chùa thường xuyên không ?
 

Thông Báo Website

Namo Buddhaya !

Website này đang trong thời gian thử nghiệm.

Rất mong nhận được sự góp ý của quý độc giả xa gần!