Công đức niệm Phật
Toogle template customization
Toggle top modules
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
PHATGIAOHOC.COM Học Phật Công đức niệm Phật
Công đức niệm Phật PDF. In Email
Viết bởi HT Thiện Tâm   
Thứ năm, 26 Tháng 5 2011 15:14

 

 

 

PHÁP TU THIỀN NIỆM PHẬT

(BUDDHANUSSATI)

 

CHỉ DẪN CÁCH NGỒI THIỀN NIỆM PHẬT

(CHO NGƯỜI SƠ CƠ) :

Hành giả chú Ý:

A. CHUẨN BỊ :

Ngồi xếp bằng lưng thẳng,

Hai bàn tay đặt ngữa lên nhau, bàn tay mặt đặt trên bàn tay trái, hai mắt nhắm lại vừa phải

Lúc thở vô thầm niệm : Á Rá Hăng ( chú ý nhìn xuống bụng )

Lúc thở ra thầm niệm : Phật Trọn Lành ( chú ý nhìn lên tại mũi )

( thầm niệm liên tục như vậy ít nhất 15 phút )

Mỗi ngày tối thiểu thực hành 2 lần (tối trước khi đi ngủ và sáng sau khi vừa ngủ dậy).

(Nếu ở nhà có thờ Phật thì ngồi trước bàn thờ Phật hành thiền - tụng kinh Lễ Tam Bảo vắn tắt và hồi hướng công đức đến chư thiên và quyến thuộc)

B. Niệm Tưởng Ân Phật :

Trước khi Thực Hành hành giả chấp tay đọc :

NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMASAMBUDDHASSA (1 hoặc 3 lần) - Lạy

( Ná mô tás xá - Phá gá vá tô - Á rá há tô - Xăm ma xăm bút đờ-hás-xá )

Đọc tiếp :

"Đức Phật tham thiền về số tức quan,

ngồi trên bồ đoàn dưới bóng cây bồ đề quí báu,

và đắc thắng toàn bọn ma vương,

mà thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác,

Ngài là Bậc tối thượng hơn cả chúng sanh,

con đem hết lòng thành kính mà làm lễ Ngài." - Lạy

C. Ý NGHĨA ĐỀ MỤC :

Đọc tiếp :

"Đức Thế Tôn hiệu Á-Rá-Hăng,

bởi Ngài đã xa lìa các tội lỗi,

nên tiền khiên tật thân khẩu ý của Ngài đều được trọn lành."

D. BẮT ĐẦU NIỆM PHẬT :

Á Rá Hăng - Phật Trọn Lành

( THẦM NIỆM LIÊN TỤC THEO HƠI THỞ VÔ-RA NHƯ ĐÃ CHỈ DẪN TRÊN)

PV : Bạch Hòa thượng, tại chùa Phổ Minh hằng ngày đều có Phật tử đến tu học, đặc biệt là hành thiền theo đề mục Niệm Phật : Á Rá Hăng - Phật Trọn Lành, vậy do đâu là y cứ ?

HT.Thiện Tâm  :

"Hằng ngày Phật tử, xuất gia cũng như tại gia có hai nhiệm vụ cơ bản là Học và Hành (tu). Hầu như ai cũng biết câu nói: " Tu mà không học là tu mù - Học mà không tu là đãy sách". Học là học Kinh-Luật-Luận và Hành là hành Giới-Định-Tuệ (cốt lõi của pháp hành), phải làm tròn cả hai bổn phận ấy mới gọi là làm tròn bổn phận của người đệ tử Phật. Từ khi có duyên được chuyển sang Nam Tông, ban đầu tu học tại chùa Tăng Quang - Huế tôi được học thiền Niệm Phật với Hòa thượng Pháp Quang và Hòa thượng Hộ Nhẫn. Đặc biệt vào mùa an cư năm 1962 tại Chùa Tăng Quang - Huế có Hòa thượng Giới Nghiêm nhập hạ tại đây; tôi và các thiện nam kỳ cựu tại Huế như cụ Sắc, cụ Đinh, cụ Đồng, cụ Điều, ông bà Đông... có phước duyên được học thiền Tứ Niệm Xứ (Vipassana) với Ngài; quí báu hơn, vào mùa hạ năm 1969 Ngài Hòa thượng thiền sư Giới Nghiêm tổ chức khóa thiền Tứ Niệm Xứ đầu tiên (3 tháng) cho hơn 50 hành giả xuất gia và tại gia tại Tam Bảo Thiền Đường núi lớn Vũng Tàu, tại đây một lần nữa tôi đã phát nguyện tinh tấn thực hành và nhờ vậy pháp hành tiến triển rất tốt và trở thành một trong số các hành giả có duyên đặc biệt với thiền Tứ Niệm Xứ (Vipassana) và rất được Ngài Hòa thượng khen ngợi để nêu gương sách tấn cho nhiều người. Cuối khóa tôi là hành giả đạt điểm cao nhất và tại lễ bế giảng được tặng cờ danh dự hạng tối ưu về kết quả thực hành trong khóa thiền năm ấy. Ngoài ra, trong thời gian tu học tại Chùa Phổ Minh tôi còn được Hòa thượng bổn sư chỉ dạy thực hành thiền Niệm Phật theo đề mục: “Á Rá Hăng – Phật Trọn Lành”. Đến nay với trên 50 năm tu học, hằng ngày tôi vẫn hành thiền và hướng dẫn cho nhiều người thực hành về thiền Tứ Niệm Xứ và thiền Niệm Phật mà tôi đã tu học được từ các Ngài chỉ dạy; đặc biệt hiện nay hằng ngày tôi vẫn hướng dẫn pháp tu thiền Niệm Phật theo đề mục: “Á Rá Hăng – Phật Trọn Lành”, cả ý nghĩa và thực hành, cho nhiều người sơ cơ hành thiền. Tôi nhận thấy pháp tu này có thể thay cho cách niệm " phồng à " " xọp à ", bài học cơ bản trong phần niệm thân của thiền Tứ Niệm Xứ và đã giúp cho nhiều hành giả sơ cơ thực hành có kết quả tốt, nhất là có sự cải thiện sức khỏe thân-tâm trong đời sống hằng ngày."

PV : Bạch Hòa thượng, vậy ngài có hướng phát triển thế nào về hoạt động tu thiền tại chùa trong tương lai?

HT.Thiện Tâm  :

"Một trợ duyên quí báu cho tôi là, từ năm 1987 tôi theo học chương trình Thạc sĩ và Tiến sĩ giáo dục tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và đã được Bộ Giáo dục - Đào tạo Việt Nam cấp bằng Tiến sĩ Giáo dục học năm 2008 sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài " Giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ đường phố trong điều kiện hiện nay" năm 2007. Qua kinh nghiệm hành trì và hướng dẫn thiền trên 50 năm qua quá trình thực hiện luận án, cụ thể là qua điều tra thực tiễn xã hội và tiến hành thực nghiệm đối chứng về phương pháp giáo dục kỷ năng sống cho trẻ đường phố, tôi nhận thấy thiền học là một môn học đặc biệt thuộc lãnh vực khoa học tâm lý giáo dục, nếu được tiến hành nghiên cứu khoa học và ứng dụng vào thực tiễn đời sống xã hội sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng sống và có khả năng cải thiện đặc biệt cho sức khỏe thân-tâm của mọi người. Từ suy nghĩ đó, nên khi được tham gia BCH trung ương Hội Tâm lý Giáo dục Việt Nam tôi đã đề xuất ý kiến và được Ban lãnh đạo Trung ương Hội chấp thuận và đã ra quyết định cho phép tôi thành lập “Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Thiền học vì sức khỏe cộng đồng” tại Chùa Phổ Minh. Hiện nay tôi đang chuẩn bị trình với cơ quan chức năng quản lý của Giáo hội và chính quyền thành phố để trung tâm sớm được ra mắt với mọi người."

Trích từ phỏng vấn của PV Hà Dương , nhà XB-LĐ

 

Lời Phát Nguyện


Muốn bao ước nguyện chóng thành,

"Á Rá Hăng - Phật Trọn Lành": pháp tu.

Ngày đêm mật niệm công phu,

Như trăng mười sáu mây mù xóa tan

"...Icchitam patthitam tumham

Khippam'eva samicchatu

Sabbe purentu sankappa

Cando pannaraso yatha..."

 

KỆ TỈNH THỨC

Đã mang thân giả tạm này,

Chịu nhiều khổ não đắng cay trăm bề.

Sinh, già, bệnh, chết ê chề,

Khi vô thường đến chẳng hề tránh ai.

Chúng sanh khắp cả bốn loài,

Ngũ uẩn giả hợp chẳng ai có gì .

Tử thần vội đến gọi đi,

Thở vào còn đó chết thì còn đâu.

Khác chi đom đóm đêm thâu,

Chớp lòe kiếp sống cảnh sầu biệt ly.

Hồn phách đành đoạn ra đi .

Một mình đến một mình đi vội vàng.

Bao nhiêu tài sản thế gian,

Chỉ trong khoảnh khắc tiêu tan chẳng còn.

Xót xa lòng những héo mòn,

Cuộc đời huyễn mộng nghiệp còn vấn vương.

Sống không tri túc liệu lường,

Đua chen danh lợi con đường khổ đau.

Hãy mau tỉnh thức quay đầu!

Nương theo Bát Chánh ngõ hầu siêu sanh.

“Muốn bao ước nguyện chóng thành,

"Á Rá Hăng - Phật Trọn Lành" : pháp tu.

Ngày đêm mật niệm công phu,

Như trăng mười sáu mây mù xóa tan.”

Mong sao Phật tử các hàng.

Siêng tu niệm Phật thân an tâm bình.

Nguyện cầu tất cả chúng sinh,

Đồng nhau niệm Phật đệ huynh một nhà!

Phổ Minh Tự, mùa Vesak PL 2555 – DL 2011

Hòa thượng Thích Thiện Tâm
(Tặng các Phật tử chuyên tu Niệm Phật)

 

PHÉP NIỆM PHẬT CÓ BA CÁCH

1. Phải tưởng "Itipi so bhagavā arahaṃ, sammāsambuddho... " cho đến "Bhagavā" rồi niệm trở lại từ đầu đến cuối, cho đủ 10 hiệu Phật. Tưởng như vậy được bao nhiêu lần cũng tốt, được 1.000 hoặc 10.000 lần, hoặc nhiều hơn nữa càng thêm tốt; tùy sức của mình (Xem hiệu Phật nơi chương Ân Ðức Phật Bảo).

2. Phải tưởng "So bhagavā itipi arahaṃ so bhagavā itipi sammāsambuddho..." cho đến "So bhagavā itipi bhagavā " rồi niệm trở lại từ đầu đến cuối cho đủ 10 hiệu của Phật; tưởng như vậy được bao nhiêu lần cũng tốt, được 1.000 lần hoặc 10.000 lần, hoặc nhiều hơn nữa càng thêm tốt, tùy sức của mình.

3. Phải tưởng một hiệu Arahaṃ, hoặc Sammāsambuddho, hoặc Buddho, hoặc Bhagavā. Trong 10 hiệu, niệm hiệu nào cũng được, nghĩa là chỉ tưởng một hiệu mà thôi, tưởng được nhiều càng thêm tốt tùy sức mình. Song niệm thì phải hiểu nghĩa mỗi hiệu mới được (xem ở chương Ân Ðức Phật Bảo).

Niệm đặng thanh tịnh thì sẽ thấy 5 pīti (phỉ lạc, vui sướng, no lòng không biết đói khát) phát sanh ra trong mình như sau này.

1.  Cách no vui, da và lông đều nổi ốc (Khuddakāpīti).

2.  Cách no vui, như thấy trời chớp (Khanikāpīti).

3.  Cách no vui, hiển hiện như lượng sóng dội nhằm mình (Okkantikāpīti).

4.  Cách no vui nhiều, có thể làm cho thân bay bổng trên hư không (Ubengāpīti).

5.  Cách no vui, làm cho mát mẻ thân tâm (Pharanāpiti).

Nếu có một trong 5 cách no vui phát sanh thì được kết quả gần vào bậc sơ định.

Phép niệm Phật không có mãnh lực cho kết quả đến bậc sơ định được, bởi ân đức của Phật là vô lượng vô biên, khó thấu cho cùng tột được. Người thường năng niệm Phật thì tham, sân, si không phát khởi lên đặng: năm phép chướng ngại (tham, sân, nghi nan, buồn ngủ, phóng tâm) cũng đều yên lặng. Người niệm Phật phải hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi của mình, như có Phật hằng ở trước mắt mình vậy.

Cho nên dầu ít căn lành, cũng được sự hạnh phúc, sẽ sanh làm người phú túc, cao sang, hoặc làm bậc trời trong kiếp vị lai; vì thế, các bậc thiện trí thức không nên khinh rẻ phép niệm Phật: phép này có nhiều phước báu, y theo lý đạo đã giải trên.

( Trích Kinh Nhật Hành của cố Hòa Thượng Hộ Tông )

Có một pháp, này các Tỳ kheo, được tu tập, được làm sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Phật. Chính một pháp này, này các Tỳ kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn

(Tăng Chi Bộ I.16, HT.Minh Châu dịch).

Yamkincisamudayadhammam sabbam tam nirodhadhammam.  
Bất cứ cái gì thuộc bản chất của sinh, cũng thuộc bản chất của diệt

 

 

 

 

Truong Y te.jpg

Tháp Bồ đề đạo tràng (Bodhigaya)

 

 

Pháp thoại sáng mồng 1 tết năm Quý Tỵ-2013

tại đạo tràng chùa Phổ Minh

Thưa quí Phật tử,

Hôm nay, nhân dịp đầu xuân năm Quí Tỵ, qúy Phật tử đã dành chút thời gian quý báu đến chùa lễ Phật, tọa thiền, đọc kinh, thọ thực trong chánh niệm, kinh hành và hồi hướng phước báu đến thân bằng quyến thuộc, đó là một điều đáng quý, thầy xin chúc Quý Phật tử năm mới an vui, sức khỏe, tránh được các điều rủi ro, tai hại, thành tựu các quả lành y theo ước nguyện trong đời sống. Nhân dịp này, thầy xin chia sẻ với quí Phật tử một vài yếu điểm Phật Pháp sau đây :

Như quí Phật tử trong đạo tràng đã biết, Đức Phật dạy: “Người sống một trăm năm mà không có Giới, không tu thiền Định (nói rộng ra là không thực hành Giới – Định – Tuệ) thì không quý bằng người sống một ngày mà có Giới và có tu thiền Định”. Điều ấy cho thấy giá trị của đời người không phải ti1nnh bằng tuổi tác nhiều hay ít mà điều quan trọng là người ấy sống như thế nào? Sống một trăm năm tuy dài nhưng so với chuỗi dài luân hồi sanh tử vô tận thì chẳng đáng là bao. Một ngày tu tập là một ngày trở về với thân tâm thanh tịnh của chính mình, một ngày thân – khẩu – ý được thanh lọc, chuyển hóa ác nghiệp -tăng trưởng thiện nghiệp để sớm đạt được mục đích giác ngộ, giải thoát, chấm dứt khổ đau sinh tử y theo lời Phật dạy: “Sabbapāpasssa akaraṇaṁ - Kusalasūpasampadā - Sacittapariyodapanam - Etam Buddhāna Sāsanaṁ”“Chư ác mạc tác - Chúng thiện phụng hành -Tự tịnh kỳ ý - Thị chư Phật giáo”“Không làm các điều ác -Thành tựu mọi hạnh lành - Tâm ý giữ trong sạch - Chính lời Chư Phật dạy”. Hôm nay là ngày đầu năm mới lại trùng vào ngày Chủ Nhật Tịnh Tu An Lạc lần thứ 153 quí Phật tử đến chùa lễ Phật và dự ngày tu học đ0ầu năm để gieo duyên tạo phước cho năm mới, một ngày rất có ý nghĩa và phước báu cho quí vị, một lần nữa thầy xin tán thán công đức của quý Phật tử!

Thưa quí Phật tử,

Theo lời Phật dạy, trên thế gian tuy có nhiều hạng người song chung quy chỉ có hai hạng mà thôi, đó là người trí và người ngu, người thiện và người ác. Con người, nói chung, dù thuộc giai cấp nào, giàu – nghèo, sang – hèn,trí - ngu , theo Phật giáo cũng đều chỉ là những tổ hợp vật chất và tinh thần (danh sắc) bao gồm những tính chất, trạng thái tương đồng cấu tạo bởi năm nhóm (ngũ uẩn) Sắc – Thọ - Tưởng – Hành – Thức. Năm nhóm này là đối tượng quán chiếu để cuối cùng thấy rõ thực tướng của Pháp mà giác ngộ Niết Bàn - chấm dứt khổ đau!

Theo căn tánh sai khác của chúng sanh có nhiều vô minh và ái dục (tham – sân – si) mà tu tập pháp tu thích hợp để tịnh hóa tam nghiệp thân-khẩu ý khỏi tam độc, bất thiện căn tạo nên mọi ác nghiệp dẫn đến bất hạnh khổ đau cho tất cả chúng sanh.

Ngoại trừ bậc thánh Vô lậu - A la hán, bậc đã loại tam độc ra khỏi thân tâm; chúng ta còn phàm phu thì cần phải thường xuyên tinh tấn tu tập để mau thoát ly khổ não.

Có nhiều người thờ Phật, thường hay đi chùa, tụng đọc nhiều kinh sách nhưng không biết tu là gì, họ cứ tưởng tu là phải vào ở chùa, đêm ngày tụng đọc nhiều kinh điển.v.v... và không biết pháp hành Giới-Định-Tuệ là gì, không biết cách loại tham-sân-si ra khỏi thân khẩu ý, thì dù suốt đời có mang danh Phật tử cũng chẳng nếm được hương vị của giáo Pháp là gì! chí đến chẳng biết đi đúng hay sai đường Phật chỉ !

Chư tổ cũng thường nhắc nhở chúng ta : Người Phật tử (xuất gia cũng như tại gia) chỉ có hai phận sự là : Học và Tu mà thôi « Tu không học là tu mù !  Học không tu là đãy sách !» Như vậy, Phật tử chân chính cần tránh hình thức cúng bái, lễ nghi rườm rà. Việc thờ Phật chỉ vì mục đích tri ân và không nên lễ bái cầu nguyện thần linh, phiền toái. Để thực hiện quá trình tu tập theo Phật chúng ta phải dựa vào ba nền tảng Giới-Định-Tuệ. Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahāparinibbana Sutta) trong Trường Bộ Kinh có đoạn : “Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến sự đoạn tận hoàn toàn các lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu, kiến lậu và vô minh lậu”.

Qua đó, chúng ta nhận thấy Phật tử cần phải thực hành Giới - Định - Tuệ  mới diệt tận được khổ đau. Trong Bát chánh đạo : Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng thuộc về Giới; Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định thuộc về Định và Chánh Kiến và Chánh Tư duy thuộc về Tuệ. Tam học Giới Định Tuệ có tương quan nhân quả với nhau như được nhắc đến trong đoạn kinh trên! Ở đây chúng ta cần đặc biệt chú ý đến hai chữ “cùng tu”. Vì hai chữ ấy đã nêu rõ tinh chất tương quan nhân quả  của  Giới - Định - Tuệ vậy.

Một điều Phật tử cũng cần biết: Giới – Định – Tuệ có liên quan đến hai chữ " Trọn - Lành " trong đề mục "Á Rá Hăng - Phật Trọn Lành". Trước hết, ta cần biết Giới – Định – Tuệ có những tên gọi khác như : Tam học, Tam vô lậu học, Tam tăng thượng học, Tam Uẩn, Tam Hương hay Tam Thiện... Ở đây, chúng ta cần chú ý đến ý nghĩa  Tam Thiện.

Thưa quí vị,

Chúng ta biết Giới - Định -Tuệ được gợi là Tam Thiện cụ túc, tức là Ba Lành Đầy đù. Giới là Thiện chặng đầu (Sơ thiện), Định là Thiện chặng giữa (Trung Thiện) và Tuệ là Thiện chặng cuối (Hậu Thiện). Như vậy người nào có đầy đủ ba thiện ấy thì gọi là Thiện viên mãn hoặc Thiện cụ túc, và được dịch ra tiếng Việt là “TRỌN LÀNH”. Vì thế khi niệm Á-Rá-Hăng-Phật Trọn-Lành là chỉ cho ta phải thực hành Giới - Định - Tuệ (TRỌN LÀNH) để tịnh hóa thân khẩu ý của ta khỏi tham - sân- si  và cũng chính là thực hành Bát-Chánh-Đạo (Giới Định Tuệ), con đường đưa ta đến Niết Bàn, diệt khổ vậy !.

Trong 10 hồng danh của Phật thì “Á RÁ HĂNG” là hồng danh thứ nhất và được định nghĩa như sau: “Đức Thế Tôn hiệu Á – RÁ – HĂNG, bởi Ngài đã xa lìa các tội lỗi, nên tiền khiên tật thân - khẩu - ý của Ngài đều được TRỌN LÀNH”. Như vậy Phật chính là Đấng Trọn lành. Ta theo Phật là để thành Phật và cũng là để được trọn lành! hồng danh nầy theo tiếng Hoa dịch âm là A la hán, có 4 ý nghĩa: Ứng cúng, Vô sanh, Sát tặc, Lậu tận.

Cũng cần hiểu thêm Á rá hăng là Phật và Phật là bậc đã tỉnh thức, không còn ái dục vô minh (Tham-Sân- Si). Một định nghĩa quan trọng là: Phật là Bâc giác ngộ Chân lý. Giác ngộ là thấy biết như thật. Chân lý là Pháp. Chân lý là Sự thật, là Định luật Nhân Quả. Giác ngộ định luật Nhận Quả đang vận hành theo định lý duyên khởi; có được cái thấy Sự Vật (Pháp) khách quan theo định lý duyên khởi như vậy được gọi là Bậc Giác Ngộ, tức là Phật. Nguyên lý ấy có tính chất vượt thời gian và không gian, có giá trị tuyệt đối, chỉ có người trí mới thấu hiểu Chân lý. Định luật Nhân Quả hoặc Sự thật hoặc Đế được nói đến trong thuật ngữ 4 Thánh đế, 4 Diệu đế. Đó là bốn chân lý, bốn sự thật cao thượng: Sự thật cao thượng về sự khổ, Sự thật cao thượng về nguyên nhân của sự khổ, Sự thật cao thượng về sự diệt khổ và Sự thật cao thượng về con đường đưa đến sự diệt khổ. Tiếng Pāli là “Dukkha ariya sacca-Dukkha samudaya ariya sacca-Dukkha nirodha ariya sacca-Dukkha nirodha gāṁinī paṭipadā ariya sacca”. Tiếng Hoa là: “Khổ thánh đế, Khổ tập thánh đế, Khổ diệt thánh đế và Khổ diệt đạo thánh đế”.

Đức Phật đã dạy: “Này các Tỳ khưu chính do không liễu ngộ (ananubodhā), không thể nhập (appativedhā) bốn Thánh Đế mà các người và Ta đã lang thang, lưu chuyển lâu đời trong vòng luân hồi này”.

Đức Phật cũng từng nói: “Như Lai nói Pháp trong suốt 45 năm, nhưng chỉ nói 2 điều là Sự khổ và Sự diệt khổ”. Đạo Phật nói có hai chữ thì là Nhân – Quả, nhưng nếu nói có một chữ thì chỉ gói gọn trong chữ Đế mà thôi. Đạo Phật chính là Chân lý về Nhân – Quả, là Sự thật về Nhân – Quả, thưa Quý vị! Nhân – Quả ở đây cũng chính là Đế. Bởi sao vậy? Nhân – Quả có hai: Nhân – Quả thế gian và Nhân – Quả xuất thế gian. Nhân – Quả thế gian liên quan đến Khổ đế và Tập đế. Trong đó Khổ là quả còn Tập là nhân. Nhân – Quả xuất thế gian liên quan đến Diệt đế và Đạo đế. Trong đó Diệt là quả còn Đạo là nhân.

Trong "Đại kinh Dụ dấu chân voi" của Kinh Trung Bộ, Tôn giả Sāriputta đã khẳng định: “Chư Hiền giả, ví như tất cả dấu chân của mọi loại động vật đều thâu nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này được xem là lớn nhất trong tất cả dấu chân về phương diện to lớn. Cũng vậy, chư Hiền giả, tất cả các Thiện pháp đều tập trung trong Bốn Thánh đế.”

Bốn Chân lý cao thượng chính là Pháp trong luận đề : “Yo mam passati, so dhammam passati-Yo dhammam passati - so mam passati” – “ Ai thấy ta, người đó thấy Pháp- Ai thấy Pháp, người đó thấy ta”. "Thấy ta ở đây là thấy Phật". "Thấy Pháp là thấy Đế" tức là tứ thánh Đế, là tứ Diệu đế..

Bốn Chân lý cao thượng về sự khổ, về nguyên nhân của sự khổ, về sự diệt khổ và con đường đưa đến sự diệt khổ, là  Nhân quả, là quan điểm, tư tưởng, thế giới quan khoa học, chân lý khách quan tức Định luật Nhân quả - Pháp. Nếu không tin Chân lý khách quan sẽ dẫn đến hai cực đoan (extremes) là khổ hạnh và lợi dưỡng, duy tâm siêu hình và duy vật chủ quan. Người nặng đầu óc duy tâm tôn giáo dẫn đến mê tín, nô lệ cho thần linh, cho rằng mọi khổ đau, hạnh phúc trên thế gian đều do một Đấng Tối cao quyết định, không ai có thể làm khác đi được, dễ sa vào các tệ nạn mê tín dị đoan, xa rời đời sống hiện thực, chối bỏ đời sống vật chất, đam mê những chuyện kỳ bí, hoang đương thần thoại, đày đọa bản thân theo chủ nghĩa khắc kỷ khổ hạnh. Người nặng đầu óc duy vật thô sơ lại cho rằng hưởng thụ ngũ dục lạc : sắc, thinh, hương, vị và xúc là cứu cánh của cuộc đời, cứ chìm đắm trong đó mà không nhận ra bản chất  vô thường, tạm bợ của vạn pháp.

Chúng ta tin Tam Bảo chính là tin vào mình, cũng là tin Pháp. Đức Phật từng nói: “Hãy lấy mình làm hòn đảo để tự nương tựa. Hãy lấy pháp làm nơi nương tựa, đừng lấy chỗ nào khác làm hòn đảo, đừng nương tựa vào chỗ nào khác.” . Nương tựa Pháp chính là thấy Pháp để thấy Phật " “Yo dhammam passati, so paticcasamuppadam passati/ Yo paticcasamuppadam passati, so dhammam passati” – Và thế nào thấy Pháp ? Người nào thấy lý duyên khởi, là người thấy Pháp. Như vậy, thấy Phật là thấy Pháp, thấy Pháp là thấy Phật. Đồng thời, thấy Pháp là thấy lý duyên khởi và thấy lý duyên khởi là thấy Pháp. Một cái thấy của phép Biện chứng khách quan - Như thị Tri Kiến, vượt khỏi cái thấy nhị nguyên đối đãi của kẻ phàm phu thường tình. Chúng ta theo Phật cũng chỉ để có được cái thấy như vật. Ở đây Tứ đế và Duyên Khởi có vai trò quan trọng qua  trình giác ngộ để thành tựu quả Phật vậy !

Chúng ta theo Phật, học hỏi Phật Pháp là để có được một cái thấy như thật. Bởi tự thân ngũ uẩn của chúng ta là Pháp, có theo Phật hay không thì tấm thân ngũ uẩn của chúng ta không hề có gì sai khác cả ! Nói như vậy có nghĩa là chư Pháp đều Vô Thường, Vô Ngã, đó là sự thật khách quan, hiển nhiên đúng với mọi sự vật, hiện tượng trong mọi không gian – thời gian. Chúng ta theo Phật có được cái thấy các Pháp đúng như thật khách quan. Vô thường – Vô ngã, duyên sinh là đặc tính cố hữu của vạn pháp theo định lý : “Vì cái này có nên cái kia có, vì cái này không nên cái kia không. Vì cái này sanh nên cái kia sanh, vì cái này diệt nên cái kia diệt”. Có – Không, không thực có cũng không thực không, liên quan đến không gian, tức là Vô ngã, Sanh – Diệt liên quan đến thời gian, là vô thường. Như vậy, vạn pháp trùng trùng duyên khởi, không có gì là không, là có đều do duyên mà thôi. Chỉ là một cái thấy, nhưng cái thấy này có công năng và diệu dụng khôn kể xiết. Cho nên mới có câu: “Càn khôn tận thị mao đầu thượng - Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung”. Trong cái cá thể hàm chứa cái tất cả và ngược lại trong cái tất cả luôn bao hàm cái cá thể. Đạo Phật quả thật vô cùng cao quí cho nhận thức của mọi người !

Thưa quí Phật tử,

Vì hằng ngày tại chùa có 3 thời khóa tu học (sáng – trưa – tối), đặc biệt là vào những ngày Chủ Nhật Tịnh Tu An Lạc  hằng tuần hầu hết Phật tử đều niệm Phật theo đề mục: “Á rá hăng – Phật trọn lành”, pháp Niệm Phật đơn giản, dành cho những người sơ cơ thực hành, theo truyền thống kinh tạng Pali. Xin nhắc lại để quí Phật tử nhớ mà thực hành để tạo phước báu cho gia đình quí vị.

Về thiền ngồi: Hành giả ngồi xếp bằng, lưng thẳng, hai bàn tay đặt ngữa lên nhau, bàn tay mặt đặt trên bàn tay trái, hai mắt nhắm lại vừa phải, buông xả không nghĩ đến việc gì khác. Lúc thở vô thầm niệm :" Á Rá Hăng" (chú ý ở bụng). Lúc thở ra thầm niệm: "Phật Trọn Lành" (chú ý tại vùng mũi). Cứ thầm niệm liên tục như vậy! Khi quên hoặc phóng tâm thì niệm trở lại ( người mới thực hành ngồi khoảng 15 phút )

Về thiền hành (đi): Sau khi xã thiền ngồi, hành giả bắt đầu thực hành thiền đi, chú ý từng bước đi thật chậm của hai bàn chân, mắt nhìn xuống đất chú ý theo dõi mỗi khi bàn chân chạm đất. Lúc bàn chân mặt vừa chạm đất, thầm niệm "Á Rá Hăng",  chuyển sự chú ý sang chân trái, lúc bàn chân trái vừa chạm đất thầm niệm "Phật Trọn Lành" (người mới thực hành đi khoảng 15 phút)

Về thiền đứng (dừng lại khi đi) : Hành giả ghi nhận, khi thở vào, thầm niệm "Á Rá Hăng", chú ý tại bụng và lúc thở ra, thầm niệm "Phật Trọn Lành" chú ý tại vùng mũi và tiếp tục đi.

Lúc thiền ( ngồi, đi hoặc đứng ) luôn theo dõi đề mục “Á rá hăng – Phật trọn lành” liên tục như vậy.

Mỗi ngày thực tập tối thiểu 3 lần như vậy sẽ đem đến lợi ích rất lớn cho sức khỏe thân tâm của người thực hành.

Pháp tu niệm Phật có nhiều cách thực hành khác nhau tuỳ theo truyền thống và kinh nghiệm thực hành của người chỉ dẫn. Tuy nhiên dù phát xuất từ nguồn gốc nào thì Niệm Phật vẫn là pháp tu rất quí báu đem lại nhiều lợi ích thân tâm. Trước hết nhờ tu Niệm Phật sẽ góp phần tăng trưởng đức tin Tam Bảo, cho ta. Chính Đức Phật cũng thường căn dặn : “Có một pháp, này các Tỳ kheo, được tu tập, được làm sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Phật. Chính một pháp này, này các Tỳ kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn” . (Tăng Chi Bộ I.16, HT.Minh Châu dịch)

Niệm “Á rá hăng – Phật trọn lành” còn giúp cho ta ý thức sâu hơn về ân đức vô cùng lớn lao của Chư Phật đối với chúng sanh, qua đó ta biết rằng chỉ có nương theo  Giới – Định – Tuệ - ( Á Rá Hăng - Trọn Lành ), con đường duy nhất mới có thể dẫn ta đến quả Phật, con đường diệt khổ cho chúng ta vậy !

Mô Phật,

Người ghi : Phật tử Tâm Hạnh (Đăng Khoa)

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 28 Tháng 3 2013 09:58
 
Toggle bottom modules

Thành Viên Website



Độc giả truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay206
mod_vvisit_counterHôm qua263
mod_vvisit_counterTuần này1884
mod_vvisit_counterTuần trước3330
mod_vvisit_counterTháng này12764
mod_vvisit_counterTháng trước6643
mod_vvisit_counterTổng cộng2488882

We have: 90 guests, 1 bots online
Your IP: 34.228.55.57
 , 
Hôm nay: 24-Tháng 3-2019

Khảo Sát Phật Tử

Bạn có đi chùa thường xuyên không ?
 

Thông Báo Website

Namo Buddhaya !

Website này đang trong thời gian thử nghiệm.

Rất mong nhận được sự góp ý của quý độc giả xa gần!